Thiên Thương, Thiên Sứ


Thiên Thương thuộc dương thuỷ, Thiên Sứ thuộc âm thuỷ, là các sao của Trung Thiên, tính chất thường là, Thiên Thương chủ về hư hao, Thiên Sứ chủ về nạn tai, bệnh tật.

Thiên Thương và Thiên Sứ luôn luôn giáp cung thiên di. Dương nam, âm nữ đi thuận, an Thiên Thương ở cung giao hữu, an Thiên Sứ ở cung tật ách; âm nam, dương nữ đi ngược, an Thiên Thương ở cung tật ách, an Thiên Sứ ở cung giao hữu.

(1) Cung vị Thiên Thương và Thiên Sứ giáp, nếu là chính diệu Hoá Kỵ, hoặc có tứ sát tinh cùng hội chiếu, bị các sao sát, kỵ của lưu niên xung khởi, sẽ chủ về tai nạn tật ách.

(2) Thiên Cơ hoặc Cự Môn, cũng không ưa Thiên Thương và Thiên Sứ giáp cung, chủ về nhiều bệnh; gặp các sao sát, kỵ thì càng đúng.

(3) Thiên Thương và Thiên Sứ giáp cung thiên di, ắt sẽ đồng thời hội chiếu cung huynh đệ và cung phụ mẫu, nếu trong đại vận gặp tiểu hạn rơi vào cung bị Thiên Thương và Thiên Sứ giáp (chú ý, là tiểu hạn, chứ không phải là cung mệnh của lưu niên), cần phải quan sát cung huynh đệ và cung phụ mẫu xem có tinh hệ “Thiên Cơ, Cự Môn” toạ thủ hay không; có tứ sát và Hoá Kỵ hay không. Nếu có, mà các sao sát, kỵ lại nặng, thì có thể anh em hoặc cha mẹ mắc bệnh tử vong. Nhưng vì dùng tiểu hạn để luận đoán, nên ứng nghiệm dễ bị sai lệch một hai năm.

(4) Thiên Thương và Thiên Sứ có phân biệt hoạ nhẹ và hoạ khẩn. Thiên Thương ưa kim cục (tức ba cung Tị, Dậu, Sửu), không ưa phương hoả (tức hai cung Ngọ, Mùi); Thiên Sứ ưa ba cung Tí, Ngọ, Mùi mà không ưa ba cung Thìn, dậu, Tuất.

(5) Người sinh năm dương không ưa Lưu Lộc đồng cung với Thiên Thương hay Thiên Sứ, chủ về bệnh hoạn.

Advertisements

Sao Thiên Sứ – Thiên Thương


Thiên Sứ – Thiên Thương
Thủy
Hung tinh. chủ sự không may.
Hai sao này là sao nhỏ, phụ nên thường coi về vận hạn.

Hai sao này đóng ở vị trí cố định: Sứ đóng ở cung Tật, Thương đóng ở cung Nô.
Cả hai đều là hung tinh, chỉ dùng để xem hạn, đặc biệt là tiểu hạn, chứ không có ý nghĩa lắm trên toàn cuộc đời. Thành thử, bao giờ cần giải đoán vận hạn, thì mới nên lưu ý đến vị trí và sự hội tụ của Thương Sứ với các sao khác.
1. Ý nghĩa của Thương, Sứ:
– buồn thảm
– xui xẻo, không may, ngăn trở mọi công việc
– mang lại tang thương, bệnh tật, tai họa
2. Ý nghĩa của Thương, Sứ ở cung hạn:
– Thương, Xương hay Khúc: tác họa khủng khiếp, có thể chết non nếu 2 hạn cùng xấu.
– Thương, Sứ, Kình, Hỏa, Riêu, Cự: hại của, hại người
– Thương, Sứ: hay ốm đau (Sứ), hay rắc rối vì bạn
– Sứ, Cơ, Cự, Hình: kiện tụng
– Sứ, Tuế: chết nếu đại hạn xấu
– Sứ, Thiên Không, Lưu Kình đồng chiếu vào hạn: chết
– Sứ, Tang, Hổ: có tang. Tại cung nào, tang có thể xảy ra cho người đó.
– Sứ ở Tý, Kình Đà, Tuế vào nhị hạn : chết
– Sứ gặp Lục Sát: chết
– Thương Sứ ở Tý, Dần: độc
– Sứ, Kình, Đà: dữ (Tử, Đồng, Lương giải được)
– Sứ Xương: khoa trường, thi cử lận đận
– Thiên Thương, Thiên Hình: bị đánh
– Thiên Thương, Tang Môn: có tang, có sự biến đổi phi thường
– Thương, Khốc: thi cử lận đận.
Năm hạn mà gặp 2 sao này thì không chết cũng nguy mạng, nếu thiếu sao giải đủ mạnh.
– họa sẽ đến mau nếu Thiên Sứ ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi
– họa sẽ đến thật mau nếu:
+ Thiên Thương ở Sửu, Mão, Thìn, Dậu, Tuất
+ Thiên Sứ ở Tý, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi

3. Những sao giải Thương, Sứ:
a. Chính tinh:
– Tử, Phủ, Lương, Đồng
b. Bàng tinh:
– Khoa, Lộc, Tả, Hữu, Quang Quý, Khôi Việt
– Thiên Giải, Địa Giải, Giải Thần
– Thiên Quan, Thiên Phúc
– Tuần, Triệt
c. Cung phúc tốt:
Ngoài ra, nếu Phúc có nhiều sao tốt và mạnh thì sẽ chế giải khá mạnh và toàn diện.
Việc chế giải ở đây không có nghĩa là sự việc đó hoàn toàn không xảy đến mà là nếu có đến, chuyện chẳng may đó không tác họa đúng mức, nếu gặp sao giải hiệu lực.

%d bloggers like this: