Luận về sao Phá Quân


Nói tóm lại, Phá Quân không có điểm nào gọi là tốt, phải. Luận như vậy thiên lệch không chính xác. Ngoài ra cũng ở sách trên có hai điểm lầm khi viết:”Gặp Thiên Phủ trở thành gian ngụy, hội Thiên Cơ thì sinh trộm cắp”. Làm thế nào mà an sao Phá Quân gặp Thiên Phủ với Thiên Cơ được?

Lại viết ”Chỉ có Thiên Lương mới giải được cái xấu, Lương Lộc mới làm vơi đi chất ngông cuồng”. Phá Quân cũng không thể đứng cùng Thiên Lương hay hội hiệp với Thiên Lương. Chỉ có thể rút tỉa được một điểm đúng ấy là: Phá Quân cần Lộc, Lộc Tồn hay Hóa Lộc căn cứ trên câu: “Lục Giáp lục Quí sinh nhân hợp cách, chủ phú quí”
Lục Giáp Phá Quân Hóa Quyền, lục Quí Phá Quân Hóa Lộc.
Theo kinh nghiệm thì Lộc thuận lợi hơn Quyền. Quyền làm cho bôn ba hơn, Lộc thì yên ổn.

Phá Quân hội Lộc đi cùng Tham Lang (trường hợp tuổi Kỷ) hoặc gặp Hóa Lộc đứng cùng (tuổi Quí) thì không nên có Thiên Mã. Lộc với Mã vốn là một cách hay gọi là Lộc Mã giao trì, riêng với Phá với Tham thì lại không hay.
Sách Đẩu Số Toàn Thư đưa ra câu phú: “Phá Quân Tham Lang phùng Lộc Mã, nam lãng đãng nữ đa dâm”. Tại sao vậy? Vì bản chất Phá Quân đã ưa thay đổi, thích xáo trộn nếu còn thêm Lộc Mã thì càng nặng ý phiêu lưu, chỉ biết phát triển chỉ biết bốc trời mà không biết củng cố. Nói tóm lại chẳng khác gì chiếc xe không có thắng thì khó mà nên công trạng sự nghiệp hẳn hòi, rơi vào tình cảnh vung tay quá trán.

Nữ Mệnh Phá Tham Lộc Mã ham của lạ, bỏ cái tốt sẵn có đi tìm cái mình tưởng tượng là tốt hơn. Đang gia đình yên ấm lại mơ tưởng một cuộc phiêu lưu không rõ sẽ đưa mình tới đâu. Người đàn bà này làm nhân vật tiểu thuyết thì vui mà làm vợ trong cuộc sống thực tế tất sinh phiền nhiễu dở dang duyên tình.

Phá Quân làm bừa ít suy nghĩ chín chắn, bỏ cái tốt đi vào cái xấu, manh động nếu gặp luôn cả Thiên Mã đi cùng Lộc Tồn hay Hóa Lộc.

Phá Quân có những thế đứng sau đây: đứng với Liêm Trinh tại Mão Dậu, với Tử Vi ở Sửu Mùi, đứng một mình ở Thìn Tuất Tí Ngọ Dần Thân, đứng với Vũ Khúc ở Tỵ Hợi. Phá Quân hãm đáng ngại nhất là đóng ở Mão Dậu, rồi mới đến Dần Thân.

Liêm Phá tại Dậu Mệnh hay Thiên Di mà gặp Thiên Hình Hóa Kị thế nào cũng bị những thất bại, hoạn nạn đến bất ngờ. Liêm Phá Hóa Kị mà không bị Thiên Hình Hỏa Tinh có lúc bạo phát, nhưng rồi chuyển sang bạo hại. Hễ đã phát rồi thì nên đổi nghề chuyển những tiền bạc đã kiếm qua một công chuyện khác hẳn nghề nghiệp cũ thì còn bảo vệ được, nhược bằng tiếp tục tất có ngày mất hết. Liêm Phá tại Mão cũng vậy nhưng không mạnh bằng tại Dậu. Phá Quân không hợp với Văn Xương, Văn Khúc.

Sách viết: “Phá Quân dữ văn tinh thủ mệnh nhất sinh bần sĩ” (Nếu Phá Quân thủ Mệnh cùng với Xương hoặc Khúc thì cả đời làm bần sĩ, có hay có giỏi mà không thành đạt)
Nhưng Phá Quân đóng Mão cung được Văn Xương Hóa Khoa lại biến thành một cách khác gọi là “phản cách”, đột nhiên có người đề bạt mà bốc lên khiến thiên hạ kinh ngạc, có điều rồi cũng không bền, một thời gian ngắn làm mưa làm gió thôi.

Bạo phát bạo bại không chỉ với Phá Quân Mão Dậu mà còn với cả Phá Quân Sửu Mùi khi nó đứng bên Tử Vi. Nếu nhiều sao tốt triều củng thì Tử Phá có thể giành được chức quyền lớn, nhất là vào chính trị hay quân giới (đã nói ở mục luận về Tử Vi)

Nhưng Tử Phá cũng chịu qui luật gần giống như Liêm Phá, nghĩa là biết công thành danh thoái thì danh mới còn, của mới bền. Ngoài ra nếu Tử Phá hội với Xương Khúc Hóa Khoa Khôi Việt cũng bỗng nhiên do người đề bạt mà thăng cao, rồi khi mất chỗ dựa xuống dốc.

Phá Quân đi với Xương Khúc dù là Tử Phá hay Liêm Phá dễ vướng hận tình. Có câu phú: “Phá Quân xung phá văn tinh tam canh bảo vân song chi hận”. (Phá Quân xung phá Xương Khúc, đêm đêm ôm hận tình, đa tình và đam mê rồi thất bại trên tình trường mà thành hận. Bị vợ bỏ, người yêu cho rơi hoặc vợ cho mọc sừng).

Ba hung tinh Thất Sát, Tham Lang, Phá Quân có chung một tính chất là biến hoá thì Phá Quân là biến hóa hơn hết, biến hóa trên gặp gỡ tế ngộ, biến hóa trên hoàn cảnh (hôn nhân, giáo dục, công tác, sự nghiệp, tài sản). Biến hóa không chỉ do hoàn cảnh mà ngay cả trong tâm ý, tư tưởng và quan niệm.

Người thủ Mệnh Phá Quân có thể do lúc nhỏ không chịu học mà càng lớn tuổi cái chí càng mãnh liệt, có thể lúc nhỏ u tối mà lớn lên thông tuệ lạ thường.

Trên tình trường lúc say mê muốn chết vì tình, lúc lạnh lùng dửng dưng như băng tuyết. Bỏ nhau rồi gương vỡ lại lành, thắm thiết với nhau chỉ một sớm một chiều rồi chia tay. Bữa nay bôn ba chìm nổi, ngày mai ngồi tĩnh tọa đốt đít chẳng thò cổ ra. Lúc này tiền của vào như nước, lúc khác trơ trỏng như bèo trong ao cạn.

Cổ nhân đưa ra câu phú: “Phá Quân nhất diệu tính nan minh” (Phá Quân thật khó hiểu) khó hiểu là do những biến đổi đột ngột.

Nói riêng về tâm lý Phá Quân, đôi lúc ngoài mặt rất mực cứng rắn mà trong thâm tâm lại mềm yếu, bên ngoài bên trong hai cực đoan đi ngược chiều. Đây cũng là lý do khác để Phá Quân khó hiểu.
“Phá Quân tính khốc bất nhân, bất an Thân Mệnh” (Người Phá Quân ác liệt bất nhân không nên an ở Thân Mệnh) Những thay đổi tạo ra tình trạng bất nhân chứ không phải sinh ra vốn bất nhân.

Phá Quân tâm thái, lý trí xung động dữ dội theo ngay và phản liền như lời Trotski đã nhận định loài người: “Trong khi cách mạng đang ở thời kì dầu sôi lửa bỏng thật cần hắn, nhưng cách mạng đã thành công rồi thì nên đem hắn ra mà bắn đi”

Phá Quân thích chuyện xung phong hãm trận, nhưng lại mau chán cái điều mình định chết vì nó. Phá Quân cư Thìn Tuất cung đối chiếu là Tử Vi Thiên Tướng cổ nhân luận rằng: “Tướng tại ngoại, quân mệnh hữu sở bất thụ” (Tướng ngoài trận có thể làm trái lệnh vua. Ví như ông tướng được vua sai đi, nhưng vì nhu cầu thực tế do nhận định riêng khả dĩ làm ngược lại mệnh lệnh của vua)

Tại sao Tử Vi Đẩu Số toàn thư lại viết hai câu:

a) Cần được Tử Vi để có uy quyền (Hỉ Tử Vi hữu uy quyền)
b) Gặp Tử Vi mất uy quyền (Phùng Tử Vi thất uy quyền)

Sự khác biệt trên là khác biệt giữa Tử Phá Sửu Mùi và Tử Phá một ở Thìn, một ở Tuất

“Trai bất nhân Phá Quân Thìn Tuất
Gái bạc tình Tham Sát Dần Thân”

Không tuân lệnh vua nếu bị quan niệm là tạo phản thì phải chịu mang tiếng bất nhân. Phá Quân Dần Thân khác với Phá Quân ở Thìn Tuất ở chỗ không thể bao giờ thành công, kể như hoàn toàn hãm địa, sách đề là bình địa. Chữ bình ở đây đối với Phá Quân mang ý nghĩa khá quan trọng, như con cọp vào ruộng chờ người đến bắt giết thôi.

Phá Quân Dần Thân trí tuệ không sáng suốt mà lại ưa làm ẩu làm bừa, thất bại là điều đương nhiên. Phá Quân Dần Thân bị Hỏa Linh công phá càng nhiều, Hỏa với Linh đứng cùng Phá Quân tất gặp Tham Lang hiệp, nhưng không thể gọi như thế là Tham Hỏa Tham Linh được. Trường hợp Phá Quân Linh Hỏa Kình Dương nếu biết an thân thủ phận phục vụ người thì yên.

Phá Quân đắc địa hay hãm địa mà gặp Hỏa Tinh thì xấu dễ gặp nạn, tai nạn gây thương tích hay hoạn nạn với cái lo bị bắt giữ tù tội. Đã gặp Hỏa rồi mà còn thêm Linh Tinh nữa càng đáng ngại hơn, có thể đưa đến tàn tật hay hình đồ.

Về câu phú: “Phá Quân Thìn Tuất nhi ngộ Tuần Khoa cải ách vi lương ư Mậu Quí nhân đa hoạch danh tài” (Phá Quân ở Thìn Tuất mà gặp Tuần Không, Hóa Khoa thì tính tình lại thuần hòa, người tuổi Mậu Quí công danh hiển đạt, làm ăn giàu có). Chỉ có tuổi Mậu mới có thể gặp Tuần và Hóa Khoa thôi, tuổi Quí Phá Quân gặp Hóa Lộc và Tuần, không thể thấy Khoa. Tuần với Khoa hai sao chung sức kềm hãm bớt tính rông rỡ của Phá Quân để gạn lọc trí tuệ Phá Quân nên được việc.

Phá Quân thuộc âm thủy trong hệ Bắc đẩu, hóa khí là hao. Thủy chủ trí tuệ, nếu được đất tất phi thường thông minh, nếu rơi vào thế hãm thì làm càn và ưa nịnh hót, gặp các hung sát tinh khác tính phá hoại tăng cao. Với Tuần Khoa thì Phá Quân trở nên mưu trí thuần hòa tiến thoái có kế hoạch.

Trong Thái Vi phú viết: “Phá Quân ám diệu đồng hương thủy trong tác tủng” nghĩa là Phá Quân đứng cùng ám diệu sẽ chết vì sông nước và trên phần khác đồng bản in lầm: “Phá Quân ám Cự đồng hương thủy trung tác tủng”

Phá Quân không bao giờ đứng với Cự Môn, dù đứng theo thế hiệp. Sau này Trung Châu phái (bên Trung Quốc) đưa ra một luận cứ khá hợp lý rằng: ám diệu là Văn Khúc với Hóa Kị vì rải rác trên các sách khác Trần Đoàn tiên sinh có nói đến Văn Khúc Hóa Kị là ám diệu.

Phía trên còn cắt câu ấy thành hai đoạn cho rõ nghĩa như sau: “Phá Quân ám diệu công hương, thủy trung tác tủng” và cho rằng Phá Quân đứng với Văn Khúc Hóa Kị ở các cung Hợi Tí Sửu (ba cung Thủy – Sửu là thủy khố) và “tác tủng” đây ý chỉ là tối tăm như ngôi cổ mộ chứ không phải chết đuối. Nói tóm lại Phá Quân đứng cùng Văn Khúc Hóa Kị tại Sửu Tí Hợi thì cuộc đời phiêu bạt tối tăm, không bao giờ gặp cơ hội thi thố khí dương mi với đời, có thể là những trang hảo hán anh hùng không gặp thời.
Cách Vũ Khúc Phá Quân đóng Tỵ Hợi xin xem đoạn luận về sao Văn Khúc.

Những câu phú cần biết liên quan đến Phá Quân:

– Phá tại Khảm Ly tam thiếu tam công quyền đắc trọng
(Phá Quân Tí Ngọ quyền cao chức trọng)

– Phá Quân Tí Ngọ cung vô sát, quan tư thanh hiển chí tam công
(cùng một nghĩa như câu trên)

“Phá toạ Khảm Ly cô thân độc ảnh
Bật Kình tọa cùng dự thủ danh gia”

(Phá Quân Tí Ngọ gặp Hữu Bật Kình Dương làm nên thành công, nhưng dễ cô độc thường phải lìa bỏ quê hương, người thân)

– Phá Liêm hãm cư Mão Dậu bằng Nguyệt Đức dĩ từ nhân
(Phá Quân thủ Mệnh tại Mão Dậu có Nguyệt Đức thì lại thành người tốt bụng)

– Phá Quân Mão Dậu mặc ngộ Kiếp Kình tu phòng hình ngục
(Phá Quân ở Mão Dậu nếu gặp Kình Dương Địa Kiếp phải lo họa ngục hình)

– Phá Kình Mão Dậu nhi phùng Khoa Bật khởi ngụy Hoàng Sào
(Phá Quân Mão Dậu gặp Hữu Bật Hóa Khoa sẽ như Hoàng Sào làm phản loạn)

– Phá cư Mộ cương quả chi nhân, phùng thời loạn thế ngộ Hình Lộc chấn động uy danh
(Phá Quân thủ Mệnh tại Sửu Mùi hay Thìn Tuất lúc đắc thế trong thời loạn mà gặp Thiên Hình Hóa Lộc uy quyền lớn)

– Phá Liêm ngộ Hỏa tử nghiệp vô nghi
(Mệnh Phá Liêm Hỏa Tinh hay vận thấy Phá Liêm Hỏa sinh nghề tử nghiệp)

– Phá Hao Dương Linh Quan Lộc vị, đác sứ khất cầu
(Phá Quân Song Hao Kình Dương Linh Tinh vào cung Quan Lộc có lúc không có bát mà ăn, thất bại xuống đến đất đen)

– Phá Quân Hỏa Tinh bôn ba lao bác
(thủ Mệnh Phá Quân đứng cùng Hỏa Tinh cuộc đời thường bôn ba chìm nổi)

– Tề tửu kiến Kim phu giai do Phá Quân phùng Thiên Mã
(Phá Quân thủ Mệnh hội Thiên Mã tính ưa ganh ghét thù hận)

– Lã Bất Vi thương phú chi nhân, hạn phùng Phá Tướng Tử Tham Quyền Ấn Hồng Hình Phụ Bật quyền nhiếp tân triều chi tiếm đế
(Lã Bất Vi chỉ là tay buôn bán đến vận hạn gặp Phá Quân Thiên Tướng, Tử Vi Tham Lang thêm Hóa Quyền, Quốc Ấn, Hồng Loan, Thiên Hình, Tả Phù, Hữu Bật bỗng nhiên mà quyền khuynh thiên hạ. Hạn này chỉ có thể đến Hợi hay Tỵ mới gặp đủ các sao kể trên)

– Phá ngộ Kị Tang cư Nô Bộc đa chiêu oán nộ
(Phá Quân với Hóa Kị Tang Hổ ở cung Nô Bộc dễ bị người oán giận. Phá Quân hãm ở cung Nô Bộc cũng vậy)

– Tật cung hạnh phùng Phá Sát, nhi ngộ Song Hao, Mộc Kị sang độc ung thư
(Cung Tật Ách có Phá Quân Thất Sát thì tốt, nhưng nếu thấy luôn cả Hóa Kị Mộc Song Hao lại bị ung thư mụn độc)

– Dần Thân Phá Hỏa Việt lâm ư Tân Đinh tuế, cơ sảo tài hành hạn lưu Mã, Tuyệt sát tinh tứ chi nan bảo (Phá Quân đóng Dần Thân gặp Thiên Việt có tay nghề giỏi, nhưng với tuổi Đinh Tân gặp vận lưu Thiên Mã, Tuyệt và các sát tinh thì có tai nạn gẫy tay gẫy chân)

– Dần cung Phúc tọa, tối hiềm Phá Liêm Dương Việt Linh lục bại dị sinh đức tổn tài suy
(Cung Phúc Đức thấy Phá Quân Liêm Trinh Kình Dương Thiên Việt Linh Tinh thì gia đình không yên, tiền bạc mất mát)

– Phá Quân ngộ Hỏa Linh Đà Nhẫn; Lâm Tuất Thìn nết hẳn gian phi
(Nhẫn là sao Kình Dương)

– “Phá phùng Hình Kị huynh hương
Anh em bất thuận hững đường tụng tranh”

– “Phá sao ấy tán tài
Cư điền bán hết lưu lai tổ truyền

(tệ hại nhất là Phá ở hãm địa đóng Điền Trạch)

– “Tứ mộ Phá gặp Lộc Hình
Uy quyền chắc hẳn rạng danh đó mà
Thìn Tuất Phá ngộ Tuần Khoa
Tuổi sanh Quí Mậu thật là hiển vinh”

– “Phá Kình Tả Hữu chớ ngờ
Ở cung Mão Dậu chắc là loạn quân”

– “Phá Quân nữ mệnh khá xem
Đắc địa cát diệu hòa hiến hiển vang
Hãm cung ác độc lăng loàn
Chỉ làm kế thiếp khỏi đàng sinh ly
Phá Quân Riêu Mã hợp vào
Ấy hạng du đãng ai nào muốn thân”

Advertisements

Sao Phá Quân


PHÁ QUÂN
Thủy
V: Tí, Ngọ.
Đ : Thìn, Tuất, Sửu, Mùi
H: Mão, Dậu, Dần,Thân, Tỵ, Hợi
Hung tinh, ngỗ ngược, hồ đồ, ưa nịnh hót. Chủ sự cướp phá

Phá Quân là hung và hao tinh, thích hợp với nam giới hơn là nữ giới. Nói chung, nữ giới gặp sao này thường bị những bất trắc về tình duyên, gia đạo vì Phá Quân chủ về phu thê, hao tán.

1. Ý nghĩa bệnh lý:
– Tọa thủ ở cung Tật, Phá Quân có nghĩa máu nóng, hay bị mụn nhọt, ghẻ lở.
– Phá Hao Mộc Kỵ: có ung thư, nếu không cũng phải mắc bệnh cần phải mổ xẻ mới qua khỏi được.
– Phá Riêu Hồng: bệnh mộng tinh
– Phá Hỏa, nhất là ở cung Ngọ: rối trí, điên

2. Ý nghĩa tính tình:
a. Nếu Phá Quân miếu, vượng và đắc địa:
– thông minh
– cương nghị, quả cảm
– tự đắc, hiếu thắng, ưa nịnh hót
– có thủ đoạn, yếm trá, đa mưu
– ham hoạt động, thích đi xa, ham săn bắn
b. Nếu Phá Quân hãm địa:
– ương ngạnh, ngoan cố, ngỗ ngược
– hiếu thắng
– hung tợn, hồ đồ, bạo tính
– nham hiểm, bất nhân
– có óc kinh doanh
– khéo tay. Đàn bà thì dâm dật, độc ác, lăng loàn

3. Ý nghĩa công danh, tài lộc:
Nói chung, Phá Quân dù đắc địa cũng còn bản chất phá tán, tiêu hao nên dù cho có ý nghĩa tốt, cái tốt đó cũng thăng trầm, không lâu bền.
Vì vậy, Phá Quân đắc địa thì được giàu sang nhưng gặp nhiều thăng trầm thất thường, khi được, khi mất. Riêng đối với các tuổi Đinh, Kỷ, Quý, Phá Quân lại tốt: có phú quý song toàn, uy quyền hiển hách. Còn đối với những tuổi Bính, Mậu, Dần, Thân, Phá Quân miếu địa tuy có hay nhưng hay mẵc tai họa.
+ Các sao hợp với Phá Quân miếu địa gồm: cát tinh (Xương, Khúc, Tả, Hữu, Tam Hóa), sát tinh đắc địa (Kình, Đà, Không, Kiếp)
+ Các sao phá hoại Phá Quân miếu địa gồm: sát tinh hãm địa, Đại Tiểu Hao, Hổ, Kỵ, Hình
+ Các sao phá hoại Phá Quân hãm địa gồm: sát tinh hãm đại, Đại Tiểu Hao, Hổ, Kỵ, Hình
– Nếu Phá Quân hãm địa gặp sát tinh đắc địa thì được giàu sang nhưng chóng tàn hay bị tai họa.
– Ngoài ra, Phá hãm ở Mão Dậu hợp với tuổi ất, Tân, Quý.
– Phá hãm ở Dần Thân, hợp với tuổi Giáp, Đinh, Kỷ.
– Phá hãm ở Tỵ Hợi hợp với tuổi Mậu.
– Trong ba trường hợp này thì đỡ lo về tai họa và tương đối khá giả.
Các sao giải những bất lợi cho Phá Quân hãm địa gồm: Hóa Khoa, Tuần, Triệt, Nguyệt Đức.

4. Ý nghĩa phúc thọ, tai họa
– Thông thường, ý nghĩa tai họa nhẹ nhất, dù là Phá miếu địa, là sự thăng trầm, thất thường của công danh tài lộc.
– Chỉ riêng trường hợp Phá miếu địa được cát tinh hỗ trợ và sát tinh đắc địa hội chiếu thì mới tốt.
– Nếu Phá miếu địa bị các sao khác phá hay Phá hãm địa đi kèm với các sao xấu thì hay mắc nạn, bị tù hình, giảm thọ, bị bệnh hoạn khó chữa, nghèo hèn, cô độc, phiêu bạt, chết thảm.

5. Ý nghĩa phá quân và một số sao khác:
a. Những bộ sao tốt:
– Phá ở Tứ Mộ gặp Hình Lộc: uy quyền lớn, danh cao
– Phá, Phá Toái đồng cung: tiếng tăm lừng lẫy
– Phá, Khoa, Tuần, Triệt ở Thìn Tuất: thẳng thắn, lương thiện. Nếu thêm cả Nguyệt Đức càng tốt.
b. Những bộ sao xấu:
– Phá ở Tý Ngọ: sớm xa cách anh em, cha mẹ; nếu không cũng khắc vợ/chồng hoặc hiếm con, nhất là đối với phái nữ.
– Phá, Tham, Lộc, Mã: trai đàng điếm, gái dâm dật. Cả hai đều vô hạnh, tuy có dư dả tiền bạc
– Phá, Cái, Đào: rất dâm dục, sát chồng, lăng loàn
– Phá, Hỏa: phá sản, bán sạch tổ nghiệp
– Phá, Hỏa, Hao: bị tai nạn khủng khiếp. Nếu thêm Việt Hình thì chắc chắn chết thê thảm vì súng đạn.
– Phá, Kình, Tả Hữu ở Mão Dậu: người hết sức độc ác, đa sát, loạn thiên hạ, giết người không gớm tay.
– Phá, Phục, Hình, Riêu, Tướng Quân: vợ chồng ghen tuông đi đến chỗ giết nhau.
– Phá, Triệt, Cô: chết đường, bất đắc kỳ tử

6. Ý nghĩa của phá quân ở các cung:
CUNG MỆNH

–  Phá Quân đắc địa: võ chức, hãm địa:bất nhân, thâm hiểm
– Phá quân Tí, Ngọ : quý cách. Tuổi Dần, Thân, Tí, Ngọ, Hỏa : thọ 50, 60 tuổi; tuổi Canh, Nhâm, Bính, Đinh làm nên danh vị (Phá Quân hãm ở Thân, Mệnh có Nguyệt đức thì giải được).
– Sát, Phá, Liêm, Tham tam phương thủ chiếu = phú quý.
– Nếu hãm thì cần có Sát tinh đắc địa phù lên (sát tinh bao giờ cũng phò tá cho hng tinh). Nếu đắc địa mà ngộ Tử, Phủ = phát lớn;
– ngộ Đào, Hồng : đàn bà sát chồng.
– Sát, Phá trùng giao = bần cùng thủy hận.
– Phá Liêm thủ Mệnh cư Mão, Dậu, ngoại Hình, Việt, Hỏa, Linh = sét đánh, điện giật, súng đạn gãy chân.
– Sát, Phá, Liêm, Tham, Phượng : tuổi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi = tốt; Kim, Mộc : làm to ; các tuổi khác thì xấu hay bị oán trách.
– Lưỡng Phá (Phá quân, Phá toái) hãm địa : tiếng tăm lừng lẫy vẻ vang.
– Phá ngộ Liêm hay Tham, Sát, Cự : trộm cướp.
– Phá quân Thìn, Tuất : bất nhân ; Sửu, Mùi : cương quyết, gặp thời đều làm nên; ngộ Hình, Lộc : uy danh lừng lẫy.
– Phá, Hỏa, Đà, Kình = gian phi.
– Phá tại Ngọ Mệnh = nói càu nhàu; ngộ Lộc, Thiếu, Dương : vui vẻ khôi hài.
– Phá, Xương, Khúc thìn, tuất ngộ Hình hay Kỵ = đa lao khổ.
– Phá, Kình Mão, Dậu : anh hùng một phương.
– Phá, Phục có Hình, Diêu, Tướng quân chiếu : chồng hay ghen có khi giết nhau.
CUNG BÀO:
– hiếm anh em, anh em bất hòa, xa cách nhau nếu Phá ở Tý Ngọ
– càng hiếm hơn và anh em ly tán hoặc có tật và bất hòa, nếu Phá ở Thìn Tuất, Dần Thân hay đồng cung với Tử, Liêm, Vũ
– Phá, Tướng, Phục ngộ Cái, Đào, Hồng và Trực phù chiếu : anh em chị em có người dâm đãng.
– Phá phùng Hình, Kỵ : khiếm hòa.
CUNG PHU THÊ:
– Phá Quân thường chủ sự hao tán phu thê. Vợ nhị tâm, chết yểu
– vợ chồng khá giả tuy chậm phu thê và có thể có lần xa cách nhau nếu Phá ở Tý Ngọ
– hình khắc, vì vợ lăng loàn hoặc vì chồng bất nghĩa nếu Phá ở Dần Thân; hình khắc nếu đồng cung với Tử
– muộn phu thê hoặc phải chắp nối hai ba lần, nếu Phá ở Thìn Tuất hoặc đồng cung với Vũ.
– bất hòa, xa cách, nghèo khó nếu Phá đồng cung với Liêm.
– Phá, Quả, Không : nhân duyên trắc trở.
CUNG TỬ
– Thông thường có nghĩa hiếm con, xung khắc với cha mẹ dù ở cung nào và đi với sao nào.
CUNG TÀI
– giàu có dễ dàng bằng kinh doanh táo bạo nếu Phá ở Tý Ngọ
– tiền bạc ra vào bất thường nếu Phá ở Thìn Tuất hoặc đồng cung với Liêm
– chật vật buổi đầu, về sau sung túc nếu Phá đồng cung với Tử hay Vũ
– khó kiếm tiền, thu ít chi nhiều nếu Phá ở Dần Thân
– nghèo, tài tán bất thường nên làm các nghề thủ công.
– Phá ngộ Vũ : làm ra tiền, song phá dữ.
CUNG DI
– được xã hội trong nể, dễ kiếm tiền, nhưng đôi khi mắc nạn nguy hiểm nếu Phá ở Tý Ngọ.
– may rủi đi liền nhau, quý nhân và tiểu nhân đều có, nhiều tai ương, chết xa nhà nếu Phá ở Thìn Tuất.
– ra ngoài gặp quý nhân, chết xa nhà nếu Phá đồng cung với Tử.
– ra ngoài may ít rủi nhiều, chết xa nhà nếu Phá, Vũ, Liêm đồng cung.
– Phá đơn thủ ở Dần Thân: hay bị tai nạn xe cộ, vì người ám hại, chết xa nhà,
CUNG QUAN
– văn võ kiêm toàn, có quyền thế, đa mưu, hay át quyền nếu Phá ở Thìn Tuất
– thành công trong nghiệp võ nhưng thất thường, lập thân trong thời chiến, gặp nhiều việc khó, nguy nhưng thành công, đa mưu, can đảm nếu Phá ở Tý Ngọ hoặc đồng cung với Tử Vi.
– quân nhân chật vật, chức nhỏ nhưng nếu buôn bán thì đắc lợi nếu Phá ở Dần Thân hoặc đồng cung với Vũ, Liêm.
CUNG ĐIỀN
– Không có điền sản nếu Phá ở Dần Thân
– có sản nghiệp buổi đầu rồi phá tan, về sau mới giữ của được nếu Phá ở Thìn Tuất hoặc đồng cung với Tử, Liêm, Vũ.
– mua nhà đất rất nhanh chóng, nhưng cơ nghiệp sa sút về già, không giữ được di sản nếu Phá ở Tý Ngọ.
– phá sản. Nếu Phá hãm thì vô điền sản. Nếu có Tử vi, Thiên Lương thì không can gì.
– Phá, Liêm : của cải hao, phá hết nhưng sau lại có.
CUNG PHÚC
Nói chung, đều có nghĩa họ hàng ly tán và riêng mình phải tha phương lập nghiệp.
– Nếu Phá ở Tý Ngọ thì được phúc, sống lâu;
– ở Thìn Tuất thì riêng mình không có phúc nhiều nhưng họ hàng quý hiển;
– ở Dần Thân thì kém phúc, bị họa, họ hàng sa sút;
– nếu đồng cung với Tử, Liêm hay Vũ thì vất vả, lao khổ, xa quê mới sống lâu.
– Phá quân ở Tí, Ngọ : tuổi Dần, Thân, Tị, Hợi hiển đạt nhưng cô đơn.
– Coi về mồ mả mà có Phá quân ở CUNG PHÚC là chỉ ngôi mộ dương mộ xa đời.
CUNG PHỤ
– Chủ về hao tán, Phá ở vị trí nào cũng sớm mất cha hay mẹ, ít ra hai người xa cách hoặc bất hòa.
– Chỉ trong trường hợp Phá ở Tý Ngọ và đồng cung với Tử Vi thì cha mẹ khá giả. Còn lại thì không tốt.
– Phá, Sát, Tham hãm : cha mẹ bỏ nhau.
CUNG GIẢI
– Phá hãm ngộ Hình, Việt, Hỏa, Linh : điện giật, sét đánh, súng đạn nạn gãy chân.
– Phá, Liêm ngộ Hỏa : chết đuối.
– Phá, Hình, Kỵ,Kình, Đà : điên và đau mắt.
– Phá, Tham : đau mắt.
– Phá quân : khí huyết bất điều.
– Phá, Sát, Hao, Kỵ,Lực : bị ung thư, mổ cắt..
Cung NÔ
– có Phá quân : hay bị oán thù;
– ở Thìn, Tuất : tôi tớ bất nhân.
– Phá, Kỵ, Tang : làm ơn nên oán.
HẠN
– Nếu Phá sáng sủa thì hạn gặp tài, danh thành đạt. Ngược lại, nếu hãm thì rất nhiều tai họa (tội, tang, mất chức, bệnh)
– Phá Tuế Kỵ: lo âu, bực dọc vì cạnh tranh, kiện cáo
– Phá Liêm Hỏa: phá sản, bị tù, có thể chết
– Phá Việt Linh Hình: bị súng đạn
– Phá Tướng Binh Thai Riêu: bị phụ tình, đàn bà thì bị lừa gạt, thất trinh, thất tiết
– Phá, Sát, Tham Trực phù mà đại tiểu hạn trùng phùng, ngộ Tuần, Triệt : chết.
– Phá, Phượng : bị trách oán.
– Phá, Tuế : có sự kiện tụng
–  Phá ngộ Liêm, Sát hay Phá ngộ Quả, Tú: Lâm nguy dọc đường.
– Phá, Tướng, Phục ngộ Diêu, Thai: đàn bà chớ nên cả nghe mà bị lừa, tơ duyên rắc rối.
– Phá, Liêm Mão, Dậu ngộ Kiếp, Hình: phòng kiện tụng.
– Phá, Sát, Linh : phòng tù tội. Phá, (hãm) Linh.
– Hình, Việt, Hỏa : phòng súng đạn, điện sét.
–  Phá, Hỏa, Sát, Mộc, Kỵ : bị ung thư mổ cắt.

%d bloggers like this: