Thái Tuế Nhập Quái


Ông Trần Thế Hưng (Đài Loan) thuộc thế hệ 5x, là lớp nổi lên sau ông Tử Vân (Đài Loan). Theo lời tự thuật thì ông bắt đầu với khoa Tử Bình, từng theo học Tử Vi với ông Tử Vân một thời gian và có qua lại với Liễu Vô cư sĩ, nhưng sau nhờ một thầy khác mới được “mở hai mạch nhâm đốc”, mạnh dạn vừa làm thầy xem Tử Vi vừa viết sách Tử Vi dương danh thiên hạ. Các sách của ông Hưng nhắm vào những lá số người thật có cùng nét đặc biệt như “Vi hà bất hôn thiên” (vì sao không lập gia đình), “hôn ngoại tình thiên” (những kẻ ngoại tình). Bài sau đây được chọn vì có xử dụng cả hai kỹ thuật sau:

-Phép mượn cung: Phép này khá thông dụng ở Đài Loan, được nhiều người xử dụng từ lâu. Thí dụ: Ông X đang ở cung Tí thì cung thê của Tí (tức cung Tuất) ứng với vợ hoặc tình nhân của ông X. Giả như ông X ngoại tình với một người đã có chồng là bà Y trong hạn này thì bà Y ứng cung thê của hạn nên ứng cung Tuất (thê của Tí). Lại nữa, vì bà X ứng cung Tuất nên chồng bà X ứng cung Thân (là cung phu của Tuất). Đại khái như thế.

-Phép “Thái Tuế nhập quái”: Phép này nhờ ông Tử Vân mà trở thành hết sức phổ biến ở Đài Loan, dù chỉ mới nổi lên trong vòng hơn hai mươi năm nay thôi. Như trường hợp ông X ngoại tình với bà Y như ở trên nếu dùng lá số của ông X để xem diễn biến ra sao thì coi cung có địa chi của bà Y ứng với bà Y, lại thêm các sao hóa theo năm sinh của bà Y vào; rồi phối hợp dữ liệu mà đoán tốt xấu. Nói chung chung nhiều lộc tụ tập thì tốt, bị kị sát tụ tập thì xấu nhưng đi vào thực tế thì có thể hết sức phức tạp.

Chú ý về cách xem nhân duyên của ông Trần Thế Hưng

Chỉ xem chính tinh tứ hóa Lộc Tồn lục cát lục sát Khốc Hư Hình Riêu Đào Hồng Hỉ. Các sao còn lại bất luận lớn (như Tuần Triệt song Hao) hoặc nhỏ (như Giải Thần, Âm Sát) đều không xem.
An Hỏa Linh thuận theo giờ cả, không phân nam nữ âm dương như VN.

Trích sách “Hôn ngoại tình thiên” (dịch nghĩa “Các lá số ngoại tình”), 1994, nxb Tiêm Đoan, Đài Bắc.

Trường hợp 11: Cô Dương, Ất Mùi 1955, âm lịch tháng 3 ngày… (3 hoặc 13, hỏa lục cục, mệnh cư Sửu vô chính diệu, phu Tử Sát cư Hợi) giờ Mão.

Nguyên tác: Trường hợp 11: Cô Dương, trang 154-171, Trần Thế Hưng, “Hôn ngoại tình thiên”, Tiêm Đoan, Đài Bắc 1994.

VDTT phỏng dịch và chú thích

Cô D làm nghề phục vụ, việc không ổn định. Năm Quý Hợi quen ông M sinh Mậu Tý (1948), năm Ất Sửu 1985 sinh đôi. Năm Tân Mùi 1991 quen ông R (Kỷ Mão 1939) đã có vợ.

Mệnh Kỷ Sửu VCD Linh độc thủ (dịch giả chú = dgc: Cách tiêu chuẩn của Đài Loan là Hỏa Linh an thuận theo giờ cả), xung có Vũ Tham Xương Khúc, tam hợp Phủ Tướng.

Mệnh: VCD, hai cung giáp cung VCD nên mệnh ở vị trí rất yếu. Khi một mình đối diện chính mình không khỏi có cảm giác cô độc lo sợ, cho nên thành tính lệ thuộc ngoại cảnh, không thích một mình. Tự tin không đủ nên không hợp các công việc khó khăn phải tự quyết định nhiều, tốt nhất là có liên hệ với người. Cô D làm nghề phục vụ vậy là thích hợp cá tính.

Linh Tinh độc thủ khó tránh nóng vội, vì VCD tính nóng vội thường khiến mình phiền lụy mệt mỏi, may không gặp Kình Đà bằng không thì như người xua nói “khó tránh hình khắc”.

Mệnh VCD, di là lốt giả, Vu Tham Xương Khúc thành nhiều cách cục Xương Tham, Khúc Tham, Linh Tham, LXĐV (trong luu niên). Cô D bản tính bất ổn, có suy nghi khác thường, khả năng học hỏi cao, cũng dễ tẩu hỏa nhập ma. Thuộc týp dễ lên dễ xuống. Làm việc sáng kiến chẳng dở, công việc nhiều biến đổi.

Người xưa nam mệnh thích Xương Khúc, như “Văn Khúc Văn Xương Thiên Khôi tú, bất độc thi thư dã khả nhân”, “Tuấn nhã Văn Xương, mi thanh mục tú; lỗi lạc Văn Khúc, khẩu tài tiện ngụy…”, “Văn Xương Văn Khúc vi nhân đa học đa năng”… (nhưng) nữ mệnh gặp Xương Khúc thì e bất cập, như “Văn Xương Văn Khúc phúc bất toàn”, “Dương phi háo sắc tam hợp Văn Xương Văn Khúc” vân vân… Thời đại ngày nay nam nữ mệnh giống nhau, ưu điểm là khả năng học tốt, ngoại hình khá; khuyết điểm là dễ chuốc phiền toái, khôn quá hóa dại; nhất là hai sao Vũ Tham rất kị Xương Khúc. Sinh giờ Mão, Dậu rất dễ gặp hai sao này cùng chỗ.

Tại sao Tham Vũ không thích gặp Khúc Xương?

1) Vũ Tham gặp Xương Khúc thành cách ác Xương Tham, thêm Linh Tinh lại thành cách LXĐV, một đời khó tránh lên xuống gập ghềnh.

2) Đại hạn luu niên dễ gặp Kị. Kỉ Tân Nhâm Quý 4 năm đều có Kị, cơ hồ thành cách “liên Kị“. Đại hạn có may tránh đuợc thì lưu niên cũng chẳng thoát qua, khiến con người bất ổn hoặc vận hạn gập ghềnh.

Theo kinh nghiệm của người viết (dgc: tức ông Trần Thế Hưng), diễn viên và quảng cáo viên nhiều người có số thế này. Bởi vì đời họ hoặc công việc của họ phù hợp với tính nhiều biến đổi, hay là vì làm các nghề ấy mà sinh ra nhiều biến đổi?

“Vũ Tham bất phát thiếu niên nhân” thời xưa có thể phù hợp bởi người Vũ Tham phải có tuổi mới ổn định, mà (xưa) cá tính ổn định mới mong có tiền đồ. Ngày nay đời sống biến đổi, cá tính bất ổn có khi hợp trào lưu; nên anh hùng xuất thiếu niên chưa chắc là việc khó, miễn là vận hạn tốt, cá tính ngoại hình không quá khó thương. Người xưa ắt nói đúng, nhưng thời đại biến đổi, theo người viết phải uyển chuyển không thể quá câu nệ; phải dựa vào các ngành nghề (phù hợp hay không) mà dụng lẽ biến thông.

Thân (thiên di): Thân cư thiên di nên rất chú ý lời bình luận của người khác, lại nữa mệnh VCD nên tình hình càng nghiêm trọng. Có lúc tỏ ra cứng cỏi vì sợ người khác biết là mình “rỗng” và bất an. Di có thể nói là mạnh nên khả năng giao tế, tiếp xúc khá, lắm bạn và nhiều loại (Tả Hữu). Cho người ta ấn tượng tốt.

Phúc: Liêm Phá trái phải có Kình Đà giáp chế, hai bên đều VCD, khó thoát cảnh tâm sự trùng trùng không khai mở được. Tinh thần thiếu chỗ nương tựa. Tương đối coi trọng tiền tài.

Phu thê: Tử Sát một thuộc thổ một thuộc Kim đều không đủ linh động, xử lý tình cảm không khỏi quá lí tính, là loại ngoài nhiệt tâm mà trong lãnh đạm, tự nhiên bất lợi cho phương diện tình cảm.

Tam phương không thấy Tả Hữu, là kết cấu “cô quân”. Lúc khởi sự có thể hứng thú, sau thành thực tế. Loại người này chẳng phải là không thích hợp kết hôn, nhưng phải tìm bạn đời có tính độc lập, ai lo chuyện người nấy, không can thiệp người kia. Sống rất thực tế thì lại có thể lâu dài. Giả như gặp người tính lãng mạn, thích gần gũi thì lại có thể chịu không nổi. Loại người này, cổ nhân liệt vào dạng “cô khắc”.

Chẳng phải là người ta không thích được yêu, chỉ là mỗi ngưòi thích được yêu một cách khác nhau, chẳng thể lấy cái nhìn của mình để xét ngưòi khác.

Tiêu chuẩn chọn đối tượng của cô Dương khá cao. Không được đóng ấn phê chuẩn thì đừng hòng làm khách vào được vòng trong.

Giải thích các đại vận

Kỷ Sửu (6 đến 15 tuổi): Vũ Lộc Tham Quyền Khúc Kỵ đều ở di cả nên lúc nhỏ ra ngoài nhiều, thích nổi; ở nhà không thuận lợi.

Mậu Dần (16 đến 25 tuổi): Tham Lộc nhưng Cơ chuyển Lộc ra Kỵ, thành thử mệnh đắc Lộc còn hạn bị song Kỵ. Hạn lại VCD bị Không Kiếp Đà thủ chiếu, là vận yếu nhất trong đời. Nhà bi phá sản, kinh tế khốn quẫn mà cô Dương tranh thủ học được đại học là tại sao? (Trần Thế Hưng chú: Xem Lộc Quyền ở đâu).

Cô Dương hạn tài, quan đều có Kỵ, khi đối diện chính mình tất khổ không thể nói được; nhưng ngoài mặt vẫn tươi cười, lại nghĩ được biện pháp kiếm tiền để tiếp tục học hành; tại sao thế, bạn có xem ra không?

 

Định nghĩa vài thuật ngữ:

Tiên thiên (ứng toàn bộ): Tiên thiên mệnh là cung mệnh, tiên thiên phu là cung phu v.v…

Hậu thiên, hạn (ứng đại hạn 10 năm): Hậu thiên mệnh hoặc hạn mệnh là cung đại hạn. Từ cung đại hạn lùi lại 2 cung thì được hậu thiên phu hoặc hạn phu. Thí dụ đại hạn ở cung Hợi thì gọi Hợi là hậu thiên mệnh hoặc hạn mệnh, gọi Dậu là hậu thiên phu hoặc hạn phu.

Lưu (ứng một năm): Lưu mệnh là cung chứa lưu Thái Tuế. Từ lưu mệnh lùi lại hai cung được lưu phu. Như năm xem hạn là năm Tí thì Tí là lưu mệnh, Tuất là lưu phu.

Kỷ Mão (26 đến 35 tuổi): Tứ hóa như hạn Kỷ Sửu, chỉ khác là bây giờ (Lộc Quyền Kỵ) ở hạn quan thay vì hạn di. Ba hạn liên tiếp bản mệnh đắc Lộc, hạn mệnh đắc Quyền nên trong gian khổ cô Dương vẫn đi đến trước. Hạn quan của cô Dương hình thành nhiều cách cục nên đổi việc khá nhiều lần; nhưng mặc dù công việc khác nhau vẫn có điểm chung là cơ bản dựa trên tiền thưởng, tiền hoa hồng.

Tiên thiên phu (chú: tức phu nguyên thủy) cũng ba hạn hội Lộc, cô Dương chẳng phải bỏ qua chuyện ái tình, chẳng qua hạn Mậu Dần binh hoang mã loạn, chẳng có thời giờ để bàn tính yêu đương; huống chi tiên thiên phu bị song Kị giáp chế (dịch giả chú: theo phái Tử Vân, một Kị của Âm từ Ngọ chiếu vào cung Tí VCD, Kị kia là Cơ ở Tuất hạn Mậu), nào phải dễ đâu!

Vận Kỷ Mão thì khác. Hạn thê có Lộc (Vũ) chiếu, thêm Linh thành cách Linh Tham, dễ nói chuyện yêu đương. Nhưng bị Khúc Kỵ thành cách Khúc Tham và Linh Xương Đà Vũ, sinh hoạt ái tình khó tránh trở ngại, muốn gặp đối tượng hôn nhân thích hợp có phần khó, huống chi hạn phu chính là bản mệnh là vị trí vừa bất ổn vừa yếu đuối, giả như kết hôn thì có thể sinh biến.

Người viết từng nhấn mạnh nhiều lần. Mười hai cung đều là ta cả. Cách cục đều sẽ gặp, chỉ khác là khi gặp thì hóa Lộc hoặc hóa Kỵ mà thôi. Như trường hợp cô Dương tiên thiên mệnh yếu nhược như thế, lại hình thành quá nhiều cách cục: Cơ Lương Kình Dương hội, Cự Hỏa Kình, Xương Tham, Linh Tham, Khúc Tham, Linh Xương Đà Vũ v.v… hành vận quả là khó khăn, trở ngại hơn người ta nhiều.

Kế tiếp chúng ta xét đoạn tình giữa cô Dương và ông M.

Năm Quý Hợi cô Dương 29 tuổi, lưu phu ở Dậu có lưu Lộc (Phá Quân) và Linh Tinh hội chiếu. Đại vận phu có Vũ Lộc Khúc Kỵ và Tham Kỵ xung chiếu là một kết cấu “cát xứ tàng hung” (Lộc phùng xung phá, phát động các cách xấu, đi đường dài thì gặp trở ngại.) Tiên thiên phu cũng hội chiếu song Lộc và song Kỵ. Cô Dương nội tâm không bài xích ái tình, lưu niên lại có cơ hội dẫn động, tự nhiên dễ sinh chuyên tình cảm, chỉ là vận phu kết cấu quá yếu, nên một là gặp đối tượng rồi có vấn đề, hai là cố duy trì nhưng gặp trở ngại trùng trùng.

Coi cung phu của lưu niên như cung mệnh của ông M thì Mùi là thê của ông này; lắm cách cục như thế, lại hiện đủ Lộc Kỵ xem ra mặt tình cảm của ông M phức tạp biến động nhiều. Nói cách khác, không dùng điều kiện du nhập thêm đã thấy năm này cô Dương muốn gặp đối tượng tốt thật chẳng dễ gì.

Ở đây có vấn đề trong vòng bàn cãi: Cùng lá số, vận phải giống y nhau hay sao? Cho nên người biết lô gích khoa học bài xích Tử Vi, bảo là phi lí, mê tín. Ông Liễu Vô có đề xướng rằng phải du nhập thêm dữ liệu mới mong luận mệnh, đừng hòng dùng lá số chung mà đoán cho trường hợp riêng (dgc: Liễu Vô đây là ông Liễu Vô cư sĩ, từng đề xướng nhu cầu thêm dữ liệu trong loạt sách Hiện Đại Tử Vi. Thực ra, đây là luận điểm của thầy ông Liễu Vô cư sĩ, tức ông Tử Vân, ông Liễu Vô cư sĩ chỉ làm việc tường thuật. Sau này ông Liễu Vô có một số chủ trương khác với ông Tử Vân, nhưng đó là chuyện khác). Luận điểm này xét ra hợp lý, nhưng rốt ráo thì mệnh lý thuộc triết học không phải khoa học, không thể lập lại thí nghiệm, cũng có những tính chất không giải thích bằng khoa học được. Ta không thể nói cái gì khoa học không giải thích được thì không tồn tại (bởi) chúng ta biết rằng khoa học vẫn không giải thích được hết mọi hiện tượng và sự thật.

Cùng một lá số nhất định có điểm giống nhau, nghĩa là có (một số) tiềm năng, cá tính, khuynh hướng tương tự; nhờ đó mà chúng ta có thể chỉ bằng lá số mà đoán cá tính và kể ra những đặc trưng về nhân cách, khiến người ta không thể hoài nghi về độ chuẩn xác (của lá số). Vận hạn lên xuống, chuyển ngắt vì chịu ảnh hưởng hoàn cảnh mà là phương diện có tính cá biệt hơn hết. Tuy nhiên, chỉ cần cùng lá số là phải có điểm tương tự. Chẳng hạn một người lên đỉnh cao thì không thể nào người khác xuống vực thẳm. Giá trị tuyệt đối có thể khác nhau, nhưng nội tâm cảm thấy thế nào (tâm thái) thì phải tương tự.

Du nhập điều kiện chẳng qua là tùy người, sự, vật đặc thù mà quan sát, phân tích, so sánh; hy vọng từ đó suy ra sự phát triển hỗ tương (giữa các yếu tố). Nói rộng hơn chút là hy vọng dùng lá số của mình để đoán ra trạng thái của đối phương mà thôi.

Các sao trong lá số đã định thì có thể đoán các vận tốt xấu thế nào. Người có kết cấu thế này thì dễ xảy ra diễn biến thế kia; việc này khi phát sinh thì dễ có kết cục như thế kia v.v… Bởi vậy người luận mệnh theo cách truyền thống không du nhập thêm dữ kiện mà vẫn thường đoán ra hoàn cảnh của bạn.

Về việc luận hạn không đúng, thường tùy thuộc kinh nghiệm tu dưỡng của người đoán. Như người không tiêu hóa cái cũ, không uyển chuyển biến thông thì nhất định đoán không đúng; người biết phân tích khách quan, chịu vận dụng các điều kiện được du nhập để quan sát thì có thể tăng độ chính xác; nhưng đừng nghĩ đến việc chính xác trăm phần trăm vì khi xét đại hoàn cảnh của con người thì xã hội hôm nay phức tạp hơn hẳn ngày xưa, chỉ qua một đêm đảng cộng sản giải thể (dgc: Sách này in năm 1994, nhiều đảng cộng sản Đông Âu giải thể năm 1989, có lẽ đây ám chỉ việc ấy), qua một đêm sẽ còn chuyện lớn nào xảy ra nữa? Khó mà dự liệu. Độ chính xác con người có thể đạt tới khó mà biết được.

Hóa Lộc tăng độ tự tin và khả năng phán đoán của ta. Hóa Kị khiến ta lòng động tâm biến, thậm chí tạo hành vi sai lầm. Nhìn từ một góc độ khác hóa Lộc là “động năng” có ích cho thực tế mưu danh cầu lợi, hóa Kị là “tĩnh năng” (dịch giả chú: Ở đây soạn giả dùng chữ “vị năng”, vị đây là vị trí, ý nghĩa chính xác nhưng tiếng Việt dễ bị hiểu lầm, bởi vậy dịch giả mạn phép đổi thành “tĩnh năng”, tĩnh đây phản lại nghĩa động, thiếu chính xác hơn so với “vị năng” nhưng khó hiểu lầm hơn) thích hợp cho việc tiềm ẩn tích lũy, lợi cho việc phản tỉnh, kiểm thảo, tập luyện. Hóa Lộc thì phải phát huy tinh lực, xung kích đạt mục tiêu; hóa Kị thì phải suy tư, lo nghĩ, cẩn thận trong công việc. Như thế Lộc Kị đều là đời sống con người, có gì phải sợ? Sợ chăng không biết tiến thối mà thôi!

Hệ thống giáo dục của chúng ta dạy chúng ta phải “hóa Lộc” như thế nào, nhưng ít nói đến khi “hóa Kị” phải cư thể nào cho đúng; có nói chúng ta phải cắn răng cố vượt qua khổ ải, đừng táng tâm thối chí, không thành công thì thành nhân v.v… Đời người chỉ là tranh chức quán quân hay chăng? Quán quân chỉ có một người, cũng chẳng có “thường thắng tướng quân” (ông tướng thắng hoài), vậy những người còn lại chẳng có tiền đồ hay sao? Học mệnh lý phải nhìn rộng, lòng cũng phải mở rộng, tâm phải có sự thiện, bằng không càng học càng phiền, càng không thoải mái; chẳng bằng không học biết gì về mệnh lý.

Nói lan man vậy quá đủ. Chúng ta hãy trở lại với liên hệ hỗ tương giữa cô Dương và ông M.

Ông M sinh năm Mậu Tí, thành ra Lộc (Tham) chiếu hai cung phu nguyên thủy và hậu thiên (của cô Dương), lại tam hợp lưu niên, cho nên cô Dưong dễ động lòng vì cái tình của đối phương. Từ cung Tí là cung trọng điểm của ông M mà xét thấy có Âm Hỏa Kị thành cách “thập ác”, nhưng cung Tuất lại có Lộc (Cơ) Quyền (Lương) nguyên thủy của cô Dương, ý là ông M cùng cô Dưong có tình không duyên, lâu rồi cô Dương sẽ bỏ ông, nhưng vì lưu niên dẫn động quá mạnh, đại vận phu lại có kết cấu như thế mới tạo thành mối tình lẽ ra không nên có như vậy.

Bất luân dùng lưu niên hoặc thái tuế nhập quái, cung thê của ông M đều hiển nhiên có vấn đề to. Lưu niên thê ở Mùi tựa hồ là vị trí đa tình và bất ổn; còn Tuất thì có Kị (Cơ) nguyên thủy của ông M, lại thành cách cô khắc “Cơ Lương Kình”. Ông M năm ấy 37 tuổi, có gia đình rồi mới phải, nhưng vẫn độc thân (Kình của ông M ở Ngọ cũng chiếu vào Tuất).

Năm Giáp Tí 1984 cô Dương có thai, chuẩn bị lấy ông M thì phát hiện ông M bề ngoài văn nhã mà thực ra có đi lại với băng đảng, vả tính tình bất định, ở càng lâu càng chịu không nổi, không biết thời khắc tới là vui hay giận. Trong cảnh bạn với người như bạn với hổ đó, cô quyết định bỏ đi, bạn thử đoán xem tại sao?

Lưu niên tam kỳ gia hội (Liêm Phá Vũ) tái cát hóa Hợi và Dậu; nhưng Nhật kỵ dẫn động Âm Kị xung Tí, lại khiến Mùi thành song Kị giáp Kị. Mùi đại biểu gì? Lại xung Sửu có ý nghĩa gì? Xin độc giả suy nghĩ. Chẳng phải là người viết “bán cái” mà là để quí vị tự xem mình đã luyện đến đâu.

Năm Ất Sửu Lộc Quyền ở bản mệnh tử và lưu niên tử, nhưng đại hạn tử không tốt. Cô Dương sinh hai trai, trao cho người khác nuôi nấng.

Hạn Canh Thìn (36-45 tuổi)

Đại hạn VCD có Kình Hỏa không khỏi lao khổ. Được Nhật hạn Lộc và Cơ nguyên Lộc chiếu nên (thành quả) tốt. Hai Lộc này giáp Dậu nên sự phát triển của hạn này dựa trên cái nền có sẵn của hạn Kỷ Mão (dịch giả chú: Ấy bởi vì song Lộc ứng với cái tốt của hạn Thìn lại làm lợi Dậu, mà Mão tức đại hạn trước xung Dậu, nên cái tốt của hạn này có liên hệ với hạn trước, tức là những liên hê của hạn cũ có biến chuyển tốt đẹp trong hạn này).

Hạn quan của cô Dưong 20 năm tọa Lộc là cơ hội tốt, sự nghiệp phải có một thành tựu nào đó. Nhưng hạn Kỷ Mão Lộc Kỵ cùng thủ tạo nhiều cách ác thành thử khó ổn định. Hạn Canh Thìn tốt hơn, dù có sát tinh nhưng chỉ có Lộc không gặp Kỵ trở ngại tương đối ít. Thế nhưng muốn việc suôn sẻ từ đầu đến cuối e chẳng dễ dàng; rốt ráo thì vì nguyên mệnh và hạn mệnh đều vô chính diệu khó tránh ảnh hưởng của hoàn cảnh, phải đổi thay cho phù hợp khó mà giữ được lập trường, phương hướng.

Hạn phu ở Dần VCD Đà La Địa Kiếp thủ là vị trí bất ổn. Tam phương tuy được song Lộc chiếu nhưng cũng bị song Kị ở hạn phúc chiếu (chú: Âm Kị nguyên thủy và Đồng hạn Kị); vậy là Lộc phùng xung phá, không tốt.

Nếu coi cung Dần (hạn phu) là đối tượng, thì cung thê của đối tượng ở Tí VCD lại bị Hỏa Âm (thập ác) và Kình Âm (nhân li tài tán) chiếu. Cô Dương có nhiều cơ hội được người theo đuổi, chỉ là những người ấy cảm tình có vấn đê.

Năm Tân Mùi cô Dương 37 tuổi, lưu niên ở di nguyên thủy, cách cục to, nhưng Xương lưu Kị thủ, cô Dương có xác xuất cao hành xử sai lầm.

Bản mênh phu có cách ác Xương Tham chiếu, nội tâm đối với hôn nhân có khuynh hướng làm trái lẽ thường, tuy không nhất định kết hôn nhưng có thể dính líu đến một đoạn “kỳ tình”.

Đại vận phu đắc 3 Lộc hội chiếu, tăng độ ổn định rất nhiều, nhưng cung VCD rốt ráo vẫn là VCD, có mối nguy chìm nổi bất thường.

Lưu phu có Thiên Phủ là một sao ổn định, ngưởi gặp điều kiện có lẽ chẳng dở (cung quan Dậu có hai Lộc giáp phù), cung phu Mão bị Kình Đà giáp chế (cho nên) cẩn thận trong việc hôn nhân, nhưng gặp Xương Kị (cho nên) năm ấy cảm tình, hôn nhân có vấn đề.

Ông R sinh năm Kỷ Mão 1939, hơn cô Dương 16 tuổi, mệnh Lôc (Vũ) và Kỵ (Khúc) đều ở lưu niên mệnh (Mùi) cũng là cung thân của cô Dương, lại chiếu tiên thiên phu (ở Hợi) nên năm Tân Mùi cô Dương cảm sự chiếu cố của ông R.

Mão là cung trọng điểm của ông R, hai cung giáp đều VCD. Nhật Lộc (hạn Canh) xung đến Dần, Cơ Lộc (mệnh Ất) xung đến Thìn, khiến Mão được tính ổn định của song Lộc giáp, chỉ là ảnh hưởng tương đối nhỏ (chú: vì đều do xung cả). Cô Dương ắt có ấn tượng tốt với ông R, và có một loại duyên phận khó diễn tả thành lời được.

Sửu ứng cung thê của ông R, chính là bị cách Linh Xương Đà Vũ, quan hệ giữa cô Dương và ông R. có tính “đảo điên”, lẽ ra không nên có lại có (chú: Vì cách Xương Tham, Khúc Tham là “li chính vị nhi đảo điên”). Ông R. sự nghiệp đã thành, vợ con đều đã di cư ra nước ngoài chỉ còn mình ông trong nước, mới có cơ hội trồng nhân cho đoạn tình này.

Cô Dương và ông R tương lai phát triển thế nào?

Nếu xét đại vận phu thì Tân Tị, Nhâm Ngọ hai hạn Lộc đều chiếu đến Dần (chú: Cự hóa Lộc và Lương hóa Lộc), tựa hồ tình chưa hết; nếu xét Sửu (chú: coi là cung thê của ông R sinh năm Mão) thì ba vận sau Kị đều chiếu cả, tựa hồ tình đã dứt; vậy giải thích làm sao?

Cô Dương không thể thành vợ của ông R, nhưng liên hệ giữa hai người có thể tiếp tục phát triển, chỉ là từ hạn Tân Tị trở đi thì tình cảm cô Dương dành cho ông R càng lúc càng nhạt đi. Nhanh thì năm Bính Tí (42 tuổi ta) Liêm Kị nhập Mão tình cảm phai mờ, chậm thì năm Nhâm Ngọ (48 tuổi ta) vì Vũ Kị xung kích Mão.

Các hạn về sau:

Ba hạn Tân Tỵ, Nhâm Ngọ, Quý Mùi Kỵ đều ở Mùi, phá hoại mệnh, thân và ảnh hưởng tiên thiên phu, khiến cô Dương tâm tình khó ổn định, chuyện muốn kết hôn khó xảy ra, mà nếu kết hôn thì chẳng tốt đẹp được.

Ngoài ra cô Dương hạn Canh Thìn, Tân Tị phúc đức đều hóa Kị, thành các cách ác Âm Hỏa, Linh Xương Đà Vũ v.v… ngoài cái lo mất tiền ra, trạng thái tâm lý cũng cần đề phòng, nhất là hạn Tân Tị (dịch giả chú: Vì phúc ở Mùi cách cục rất rõ nét).

Lời kết:

Cô Dương cảm tình không thuận lợi, có thể cả đời không thành hôn, nguyên nhân có thể quy về:

Một: Mệnh vô chính diệu, hai cung giáp cũng vô chính diệu, hội họp có nhiều cách ác; khiến cá tính bất an, hành sự thiếu chín chắn, phán đoán dễ sai lầm.

Hai: Tiên thiên phu sao quá cương, lại vào cách cô quân, trừ tiêu chuẩn cảm tình quá cao, xử lý tình cảm quá cương nghị, thiếu cái dịu dàng của nữ giới. (Nhưng) cũng có thể vì đó mà phù hợp với sinh hoạt cảm tình độc lập như vậy.

Ba: Các hạn trong tuổi thích hợp thành hôn cung phu đều bị Kị xâm phạm, gây trở ngại trong cảm tình, không dễ gặp đối tượng tốt, lại là cung VCD thiếu ổn định.

Hạn Mậu Dần, Tí VCD bị tiên thiên Kị xung, thành cách Âm Hỏa.

Hạn Kỉ Mão, Sửu VCD bị Khúc Kị xung, thành cách Linh Xương Đà Vũ.

Hạn Canh Thìn, Dần VCD bị song Kị (Âm nguyên Kị, Đồng hạn Kị) chiếu.

Rồi đến hạn Tân Tị lại bị Xương Kị; rõ là bị Liên Kị nên trên đường tình ái bị cảnh gập ghềnh khó đi.

Ngoài ra bốn vận Kỷ Sửu, Mậu Dần, Kỷ Mão, Canh Thìn Lộc hoặc Quyền đều ở tiên thiên di khiến cô Dương hiếu thắng, đòi tranh đấu với số mệnh.

Tóm lại, lá số như cô Dương một đời nhiều xung động biến hóa, chuyện gì sẽ xảy ra chẳng dự liệu được nhưng chẳng đáng ngạc nhiên.

Advertisements

Thiên Diêu


Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư
Sao Thiên diêu thuộc âm thủy, hóa khí là phá hao, chủ về đào hoa, phong lưu.
Sao Thiên diêu tọa mệnh, chủ đa nghi, sợ cô đơn, tư tưởng, sớm trưởng thành, tình cảm phong phú, đa tài đa nghệ, rất chú trọng quan tâm đến hình thức bên ngoài, có phong cách độc đáo, thông minh lanh lợi, có khiếu hài hước, quan hệ rộng thích giao tiếp, có sức hấp dẫn đối với người khác giới, có năng khiếu nghệ thuật.
Sao Thiên diêu nhập miếu, chủ về lịch sự phong nhã, có diễm phúc (làm bạn với người đẹp), có tài nghề giầu sang, nếu đóng tại Hợi sẽ có học thức. Nếu rơi vào cung hãm chủ về đa tình, đa nghi thái quá, dễ đi lầm đường, đam mê tửu sắc.
Sao Thiên diêu gặp phải ác tinh, chủ về khuynh gia bại sản, vì sắc dục mà phạm tội. Đại hạn, tiểu hạn, hoặc lưu niên có Thiên diêu đến, chủ về hôn nhân tùy tiện không cần mai mối, không cần nghi thức kết hôn. Cần phòng tai họa về sông nước, tái hôn.
Sao Thiên diêu ở tại Mão Dần Tuất Hợi là nhập miếu, tại Thân Tý Thìn Dần Tị Ngọ bình thường, ở tại Sửu Mùi là hãm.
Sao Thiên diêu nhập miếu lại gặp Cát tinh chủ về siêu phàm thoát tục, có lợi cho các lĩnh vực văn hóa văn nghệ, nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật thiết kế.
Sao Thiên diêu là sao đào hoa, đã là sao đào hoa đều chủ về tính cách “thay lòng đổi dạ”, khó nắm bắt, nhanh nhạy thông minh, nhiều toan tính, kết duyên đào hoa nhanh chóng, phóng khoáng dạn dĩ, yêu hết mình, dám làm dám chịu, giầu sáng tạo thích hợp với ngành nghê năng động. Nhưng thiếu ổn định, nên dễ nản chí, thường không theo đuổi được việc gì lâu dài.
Phong cách độc đáo của sao Thiên diêu rất có sức hấp dẫn đối với người khác giới, đồng thời sao Thiên diêu cũng rất yêu bản thân mình, khao khát được người khác giới khẳng định, nhưng cũng chỉ là tình cảm thoáng qua.
Thiên diêu đóng tại cung Thân cung Mệnh, chủ về áp dụng tài năng vào trong công việc một cách thuận lợi, công việc thường có liên quan đến người khác giới, như phim ảnh biểu diễn, quân áo, trang sức.
Nếu Thiên diêu nằm cùng cung với sao Tử vi tại Tý, Ngọ, Mão, Dậu, là thuộc vào cách “đào hoa phạm chủ”, chủ về phong lưu, đề phòng bệnh về máu. Thiên diêu đồng cung với Hữu bật, chủ về gặp nhiều rắc rối, mắc mớ về đường tình duyên. Thiên diêu lại gặp các sao đào hoa như Hồng loan, Thiên hỷ, Hàm trì, Mộc dục, cần phải hết sức thận trọng với chuyện tình cảm sắc dục, nếu không sẽ phải nhận lấy hậu quả đau buồn.
Cung vị tam phương của Thiên diêu nếu gặp Tham lang, Liêm trinh, Mộc dục, chủ về chết yểu. Khi Thiên diêu đồng độ với Kình dương, cũng cần đề phòng chết non.
Thiên diêu nằm cùng với tứ sát, hoặc gặp Hóa Kị, chủ về tán gia bại sản vì cờ bạc, tửu sắc, dễ gặp rắc rối vì người khác giới
Thiên diêu hợp với cung Thiên di, chủ về ra ngoài được quý nhân phù trợ, Thiên diêu không hợp với cung Phúc đức chủ về thân tâm vất vả, lại gặp rắc rối về tình cảm.

Trung châu Tam hợp phái – Vương Đình Chi
Thiên diêu thuộc âm thủy, chủ về đào hoa, có duyên gặp gỡ, hoặc có tính chất “tiếng sét ái tình“, gặp thêm Hàm trì, Đại hao, Mộc dục, chủ về làm mạnh thêm bệnh của Thiên diêu, như hiếu sắc, trùng hôn (tức cùng lúc có hai ba người), bệnh về tính dục. Gặp thêm Hồng loan, Thiên hỷ thì có thể giảm nhẹ những bệnh này.
Thiên diêu không ưa thủ mệnh ở tại Sửu hoặc Mùi, chủ về dễ quyến luyến chốn phong hoa tuyết nguyệt.
Văn xương, Văn khúc đồng độ với Thiên diêu, ắt là người phong lưu ưa thiết thực, tự đánh giá mình quá cao.
Thiên diêu hội các sao Sát Kị, sẽ làm mạnh thêm tính chất vì sắc mà gây nên họa, xem xét kỹ tổ hợp tinh hệ chính diệu và xem ở cung nào mà định. Nếu ở cung Tài bạch, chủ về vì tử sắc mà phá tài; ở cung Điền trạch chủ về sản nghiệp của ông bà hay cha mẹ bị phá tán; ở cung Phu thê chủ về trùng hôn, tái hôn; ở cung Phúc đức chủ về tư tưởng thường hay bị hỗn loạn, không thể trầm tĩnh.
Thiên diêu thủ cung Thiên di, có sao Cát cùng bay đến, tổ hợp tinh hệ chính diệu cũng cát, chủ về đi xa, chuyển dời đến nơi khác sẽ gặp nhiều cơ hội, và được người ở tha hương trợ lực.
Cung có Thiên diêu tọa thủ, có Mộc dục, Hàm trì, Đại hao đồng độ, lưu niên mà gặp chúng, chủ về gặp chuyện đau khổ mang tính chất đào hoa.

Thiên Hình


Tử Vi Đẩu Số toàn thư
Thuộc tính âm dương ngũ hành của sao Thiên hình thuộc dương hỏa, hóa khí là cô khắc, chủ về hình thương, kiện tụng, cô độc. Sao Thiên hình nhập miếu sẽ trở thành thần Thiên hỷ, có tài cán quyền uy, chưởng quản binh quyền. Nếu gặp sao Thái dương chủ về phát võ nghiệp. Gặp Văn xương, Văn khúc, chủ về nắm quyền trấn giữ biên cương.
Sao Thiên hình nhập vào cung Mệnh cung Thân, chủ về tướng mạo anh tuấn, uy vũ bất khuất, có tài cán, nhưng cá tính kiên ngạo cô độc khó gần, có tư tưởng và quan niệm giá trị độc đáo khác người, không có duyên với người thân, ưa thích đoán mệnh hoặc tự nghiên cứu mệnh lý, có duyên với Thần, Phật. Chỉ khi nhập miếu tại bốn cung Dần, Mão,  Dậu, Tuất, lại gặp thêm Cát tinh, mới chủ về cát lợi, và có thể nắm quyền lực lớn. Tại sáu cung Tuất, Hợi, Tý, Thìn, Tị, Ngọ là bình thường. Tại hai cung Sửu và Mùi là lạc hãm. Nếu hai hạn gặp phải, chủ về xuất gia, kiện tụng, mất mát phá sản. Thiên hình có tính “đột ngột, bất ngờ” ví như hỏa hoạn, cần đặc biệt đề phòng tai họa do Thiên hình gây ra.
Sao Thiên hình nhập mệnh, chủ về tích cực, biết nắm bắt trọng điểm, thiên ác phân minh, tuân thủ pháp luật và chế độ, anh hoa phát tiết ra ngoài, nhưng có nhược điểm về ngôn ngữ và hành vi, dễ bị người khác hiểu lầm.
Sao Thiên hình là sao chủ về “nợ nần”, nếu nhập vào các cung Mệnh, Thân, Tài, Quan, thường có hiện tượng “tiền của đến rồi lại đi”, mà thành ra tiền của quay vòng.
Khi Thiên hình nhập miếu, ưa gặp sao Thái dương, ngoài ra cũng hợp với các sao Tử vi, Thiên tướng, Thiên lương, Tham lang, Cự môn. Nếu theo những ngành nghê pháp luật, y khoa, quân đội, cảnh sát, tôn giáo, chủ về sẽ có thành tựu. Thiên hình tốt nhất nên gặp Văn xương, Văn khúc tại cung vượng, sẽ phát cả về nghiệp văn và nghiệp võ, chủ về thành danh, có thể trở thành quan tòa hoặc thầy thuốc nổi tiếng. Nếu Thiên hình đồng cung với sao Kình dương, lại gặp sát tinh, Hóa Kị, khó tránh khỏi tai họa mà tổn thương đến thân.

Trung châu Tam hợp phái – Vương Đình Chi
Thiên hình là sao của Trung Thiên, thuộc dương hỏa, chủ về cô độc và hình khắc, lại còn chủ về hình phạt. Cát thì chủ về tự kiềm chế. Ưa các sao cát, ưa nhất là Văn xương, Văn khúc. Ưa ở các cung Dần Ngọ Tuất, Thân Tý Thìn. Kị các sao hung, kị nhất là ở hai cung Sửu và Mùi.
Thiên hình thuộc dương hỏa, Thiên diêu thuộc âm thủy, Thiên hình chủ về tự kềm chế, Thiên diêu chủ về phóng túng, là cặp sao đôi có bản chất trái ngược nhau.
Thiên hình ưa Văn xương, Văn khúc kết thành đôi hội chiếu hoặc đồng độ, chủ về tự kềm chế mà không có sát khí. Nếu Thiên hình ở các cung Dần, Mão, Dậu, Tuất là nhạp miếu, gặp Văn xương, Văn khúc, cổ nhân gọi là “chấp chưởng biên cương“, nhưng lại không phải là võ tướng, phần nhiều chủ về chức võ mà nghiệp văn, tương tự như ngành Hải quan ngày nay.
Thiên hình hội với Thái dương và Cự môn đồng độ, là sao “chấp chưởng hình pháp“.
Thiên hình hội hợp với Thái dương Thiên lương đồng độ, gặp thêm các sao Sát Kị, lại chủ về phạm pháp kiện tụng, mà không chủ về “chấp chưởng hình pháp“, không giống trường hợp hội hợp với Thái dương Cự môn.
Tử vi hội Tham lang ở hai cung Tý hoặc Ngọ, hoặc đồng độ với Tham lang ở Mão hoặc Dậu, ưa gặp Thiên hình, không phải là “đào hoa phạm chủ”, mà chủ về có thể tự kềm chế.
Vũ khúc Thất sát đồng độ cùng với Kình dương, lại có Thiên hình cùng bay đến, cổ nhân nói “dùng dụng cụ sắc bén để kiếm tiền, như thợ cắt tóc, đồ tể“, thời hiện đại cũng có thể là bác sỹ ngoại khoa, nha sỹ.
Thiên hình ở tại Sửu hoặc Mùi, có sắc thái “cô độc và hình khắc“, bất lợi đối với lục thân. Cần phải xem xét kỹ các cung Lục thân mà định.
Cung Tật ách có sao Thiên hình, lại có các sao Sát, Kị xung hội, đề phòng tuổi trẻ tàn tật, hoặc sinh ra đã bị dị tật. Cung Tật ách của lưu niên hoặc đại vận mà gặp Thiên hình, bị lưu Kình xung hội, chủ về phải phẫu thuật.

Nhất diệp tri thu – Phan Tử Ngư
Sao Thiên hình thuộc dương hỏa, chủ về hình yểu, ở miếu địa còn có tên là Thiên hỷ thần, có quyền uy. Trong Đẩu Số chủ về y dươc.
Tính cách của sao Thiên hình là hơi cô độc, cao ngạo, có tài năng, phần nhiều vất vả, bị hình khắc, nhập mệnh thì dễ bị thương tật, kiện tụng. Nhập cung Tật ách, thì lúc còn bé coi chừng mắc bệnh bại liệt, di chứng sau viêm não. Nếu vượng địa chủ về nắm đại quyền, gặp Thá dương chủ về làm quan võ, đồng cung với Văn khúc thì văn võ song toàn, thành danh, hiển đạt ở biên cương. Tối kỵ đồng cung với Thiên khốc trấn thủ tại cung mệnh, vì không tránh khỏi nghèo đói, tai họa, bệnh tật, chỉ nên làm sư tăng đạo sỹ, không có tình cảm đối với lục thân.
Sao Thiên hình coi bốn cung Dần, Mão, Dậu, Tuất là nhập miếu, nếu ở cung khác có chính tinh miếu vượng cũng có thể thừa vượng, nhưng nếu gặp Kị Sát xung phá, hoặc chính tinh hãm địa, thì chủ về cô khắc, bất lợi, bệnh tật.
Sao Thiên hình nhập miếu, hoặc thừa vượng, mà gặp Cự môn, Thiên lương, hoặc Thiên tướng, thì phần nhiều chủ về thành danh ở giới tư pháp, hoặc thành danh ở một môn học thuật nào đó.

Nam Bắc phái đoán mệnh – Chu Văn Sơn
Sao Thiên hình nhập miếu biểu thị có quyền uy (Dần, Mão, Dậu, Tuất là miếu địa. Thân, Hợi, Tý, Thìn, Tị, Ngọ là bình hòa. Sửu Mùi là hãm địa). Mặt vuông, vàng mà hơi đỏ hoặc trắng, hoặc cao hoặc thấp mà hơi béo. Về cá tính thì cô độc, cao ngạo. Có tài cán, cuộc đời nhiều vất vả, tính cách cương nghị, không ác độc. Tỳ khí không tốt.
Sao Thiên hình nhập mệnh khiến tay chân bị hình thương, ở hãm địa thì xảy ra tai họa phải phẫu thuật. Thiên hình chủ về việc quan sai, nếu gặp Liêm trinh, Cự môn lạc hãm, thì xảy ra kiện tụng, hoặc việc liên quan đến pháp luật. Nếu miếu vượng, có thể nắm đại quyền hình sát, như làm quan xét xử. Chính tinh lạc hãm Hóa Kị, mà lại gặp Thiên hình, thì chủ về việc liên quan đến pháp luật, có tai họa tù ngục, cần phải xem tình hình các sao khác. Nếu có lưu niên Bạch hổ đến hay xung chiếu, lại thêm Hỏa tinh Linh tinh hội lại, thì năm đó chắc chắn khó thoát khỏi họa lao ngục.
Năm Giáp có Thiên hình, đầu năm nếu không bị thương thì cuối năm sẽ cô độc, dễ theo đạo Phật.

%d bloggers like this: