TÌM HIỂU PHÚ TỬ VI


  • Người đẹp dâm : Thiên Lương Ngộ Mã ;
  • Thiên Đồng Ngộ Kị Tại Tuất ;
  • Đàn bà khó bảo Toàn Thân Danh gặp cách gì?

Trong bài hôm nay, tôi xin tiếp tục mổ xẻ thêm một số câu phú tử vi để bổ túc trong một thời gian ngắn loạt bài về phú đã đăng trên KHHB. Tôi cần lưu ý quý bạn là tôi chỉ nêu ra những câu thật ứng nghiệm hoặc những câu tuy thông dụng nhưng dễ áp dụng sai hay không hợp lý, cho nên quý bạn sẽ không bao giờ thấy những câu phú quá thông thường và dễ áp dụng trong loạt bài phú của tôi.

1) Thiên – Lương Ngộ Mã Nữ mệnh tiện nhi khả dâm:

Giải nghĩa : Nếu phụ nữ có Thiên -Lương tọa thủ tại Mệnh ( đương nhiên ở cung Tỵ hoặc Hợi theo cách bố cục chính tinh) mà gặp Mã ( đồng cung hay xung chiếu ) thì là người dâm đảng.

Nhận xét : trước hết ta tự hỏi tại sao Thiên – Lương là không có đặc tính gì dâm đãng mà khi gặp Thiên – Mã (chỉ là sao di động ) lại đem cái tính xấu đó tới người phụ nữ . Trường hợp này quí bạn cần xét tới chính tinh khác gây ảnh hưởng và cần phải suy luận ra mới thấy ý nghĩa hợp lí chứa trong câu phú .

Nếu quí bạn đã thông thuộc cách an sao trên bàn tay thì hẳn quí bạn thấy rằng khi Thiên -Lương tọa thủ tại Tỵ hoặc Hợi thì bao giờ cũng có Thiên-Đồng xung chiếu và chính sao Thiên-Đồng là đầu mối của ý nghĩa trong câu phú. Thực tế, tuy Thiên-Đồng không phải là sao chủ về đa tình, dâm đãng thực sự nhưng lại là sao chủ về sự di chuyển liên tục, nhất là đóng tại cung Thiên-Di và lại gặp Thiên-Mã (dù không đồng cung) thì làm sao đương số ru rú ở xó nhà được, và khi người đàn bà hay “chạy rông” ngoài xã hội rất dễ trở thành người ăn chơi, trụy lạc, nhất là theo quan niệm thời phong kiến, cổ xưa ở bên tàu cũng như ở bên ta. Do đó mới có vấn đề dâm đãng trong câu phú mà ta phải suy luận ra sao mới hiểu được .Tuy nhiên vì thời văn minh này đã thay đổi hẳn cách sống của người phụ nữ, ta phải áp dụng thận trọng câu phú trên

Vậy muốn giải đoán cho chính xác và khách quan ta cần phải lưu ý đến khía cạnh, yếu tố nào? Trước hết quí bạn xét đến cung Mệnh và Thiên- Di xem có thêm nhiều sao chủ về đa tình, lãng mạng hay không. Nếu có Hồng Riêu, Tả Hữu, Xương Khúc ( không bao giờ gặp đào hoa ở Tỵ hay Hợi ) chẳng hạn lại thêm Mộc- Dục, Hoa- Cái và Đào- Hoa nữa tại Giải- ách thì câu phú hẳn phải ứng nghiệm một trăm phần trăm, nhưng nếu không gặp những sao trên, mà mệnh lại có Hóa Quyền, Thiên Hình hoặc Thiên Khôi hoặc Thiên Việt (nếu Mệnh tại hợi thì chỉ gặp Thiên Khôi, ở Tỵ chỉ gặp Thiên Việt ) thì khó lòng ta dám quyết đoán là đương số có tâm hồn dâm đãng, chứ chưa nói đến cách sống dâm đãng .Vì các sao Hóa Quyền và Thiên Hình là những sao tự chủ được mạnh mẽ mà chỉ những người khắc kỷ mới hay có, còn các sao Khôi Việt chủ về sự tư cách, trọng hậu, thanh cao thì làm sao đương số có tính xấu như vậy được .Trong trường hợp này, dù cho cung Nô Bộc có Đào Hồng, riêu cũng chưa chắc đã lung lạc nổi tâm hồn của đương số. Và như vậy chỉ còn cách quyết đoán là đương số hay bôn ba, hay thay đổi nơi ăn chốn ở hoặc nơi làm việc, hoặc hay được xuất dương, xuất xứ ( nhất là khi có Thân cư Thiên Di) chứ tuyệt nhiên ta không nên kết tội theo câu phú mà thành ra ” quê một cục ” . Dù muốn dù không câu phú này cũng được đặt ra ở thời phong kiến bên Tàu là thời phụ nữ kín cổng cao tường hễ cứ lộ diện là bị chê bai là…hư đốn rồi, cho nên khó ứng nghiệm vào thời dại văn minh này .

2) Thiên -Đồng Tuất Cung Hóa-Kị, Đinh Nhân Mệnh Ngộ Phản Vi Giai:

Giải nghĩa : Mệnh an tại Tuất mà có Thiên Đồng tọa thủ lại gặp Hóa Kỵ đồng cung thì rất xấu nhưng lại gặp người tuổi Đinh thì rất tốt đẹp.

Nhận xét: Câu phú này trong nhiều sách tử vi đều có nêu ra, nhưng ta thấy ngay là vô lí, nếu lưu ý đến bố cục bố trí của các sao.Tôi không giám bác bỏ hẳn câu này . Tôi chỉ xin nêu ra điểm sao Hóa- Kỵ khi đã đồng cung với thiên đồng (bất cứ ở cung nào) cũng không ứng vào tuổi Đinh vì tuổi này áp dụng câu “Đinh Nguyệt Đồng Cơ Cự với Cự Môn, còn Hóa Quyền lại đồng cung với thiên- đồng . Có thể câu phú có ý nói là Thiên Đồng ở Tuất ngộ Hóa Kỵ ở cung xung chiếu, tức là cung có Cự -Môn tọa thủ ( ở Thìn ), nhưng dù sao có vẻ cũng gượng ép nếu ta đọc kĩ câu (Thiên Đồng Tuất cung Hóa Kỵ ) trong câu phú .

Theo tôi, quý bạn nên dựa theo câu phú tương tự “Thiên -Đồng Tuất cung vi phản bội, Đinh nhân hóa cát chủ đại quý (có sách chép là “mệnh ngộ phản vi giai” thay vì “hóa cát chủ đại -quý” ) thì có lẽ hợp lí hơn vì không đề cập đến Hóa-Kỵ đồng cung tại Tuất .Vậy bây giờ ta cần tìm hiểu xem tại sao tuổi Đinh lại “ lật ngược thế cờ “như thế?.

Thiên-Đồng ở Tuất tuy bị hãm địa thật, nhưng với tuổi Đinh lại hội đủ bộ Lộc, Quyền Khoa vì Hóa-Lộc đồng cung với Thái âm (ở Dần) Hó -Quyền đồng cung với Thiên-Đồng, Hóa -Khoa đồng cung với Thiên Cơ (cũng ở dần) .Ngoài ra, còn có Lộc-Tồn cư cung Ngọ (đồng cung với Thiên- Lương ) tức là cung Tài – Bạch và khi Lộc-Tồn cư Tài -Bạch thì lại có Tướng-Quântại cung Quan-Lộc ( vì là âm nam, dương nữ ) và thêm cả Quốc – Ấn cư Quan-Lộc (Dần ) nữa mới xét sơ qua như thế chúng ta đã thấy nhiều yếu tố tốt đẹp rồi mà chỉ có tuổi Đinh mới hội đủ ; khi đó Thiên-Đồng chỉ đóng vai trò phụ hoặc bỏ qua cũng được, quý bạn cứ kiểm tra qua tuổi khác một tí thì thấy không có tuổi nào được một góc của tuổi Đinh . Ngay như tuổi Kỷ cũng có Lộc-Tồn cư Ngọ như tuổi Đinh nhưng bộ Tam Hóa không hội đủ, chỉ có Hóa – Khoa đồng cung với Thiên -Lương tại Ngọ mà thôi . Đây là chưa kể đến trường hợp được thêm một số yếu tố tốt khác tùy theo ngày, giờ sinh . Tuy nhiên quí bạn cần ghi nhớ một điều là tuổi Đinh chỉ tốt về phương diện công danh, tiền tài chứ vẫn có thể bị kẹt về tai ách vì có Cự -Kỵ đồng cung tại Thiên -Di (nếu xui xẻo có “Thân ” cư ở đó nữa thì khó thoát được), nhưng có điều may là luôn luôn có Thanh-Long ở cung Thìn (an theo Lộc-Tồn đi nghịch là vì âm Nam hoặc Dương-Nữ) thì vấn đề nạn nước coi như đã hóa giải được gần hết, trừ phi có thêm nhiều cách gì khá trở ngại mà thôi (tỷ dụ như có Không Kiếp, Linh, Xương, v.v)…Có lẽ vì thế câu phú không hề đề cập đến điểm bất lợi kể trên mà chỉ khẳng định là tốt đẹp.

3)”Thân” tại Quan cung gia sát diệu Triệt ,Tuần, nữ mệnh nan bảo thân danh: gia kiến Bạch Tang cô thân trích ảnh nghi gia vãn tuế tất thành

-Giải nghĩa:”Thân” cư cung Quan Lộc gặp sát tinh và Tuần, Triệt án ngữ (xung chiếu không kể) nếu đàn bà con gái mà gặp thì khó bảo tòan được danh tiết; trường hợp thêm cả Tang Hổ hợp chiếu về (nếu tọa thủ lại hại nữa) thì bị cô đơn nếu lập gia đình sớm, về già thì may ra yên ổn về phương diện này.

-Nhận xét: Tôi thấy câu phú này ngoài khía cạnh ứng nghiệm còn phải nói là dộc đáo nữa, vì thường đoán về phương diện hôn phối ta hay nhắm vào cung Mệnh, Phu Quân và sau nữa là Phúc Đức chứ ít khi ai chú ý tới cung Quan Lộc dù cho có “Thân” đóng ở đó. Hơn nữa, về danh tiết cũng vậy, ta thường xét đến Hồng, Đào Binh, Tướng.Không Kiếp chiếu Mệnh, Thân chứ có khi nào lại để ý đến Tuần Triệt án ngữ tại cung Quan chỉ chủ về công danh trắc trở, gián đoạn . Dù cho có thêm Sát –Tinh hội chiếu cũng khó ảnh hưởng về danh tiết .Vậy không có lẽ câu phú này đã ứng nghiệm một cách vô lý? Nhưng nếu chịu suy luận một chút, quý bạn sẽ thấy hợp lý vì người xưa quan niệm đàn bà con gái phải sống nhờ chồng, lo việc nội trợ phải xuất thân ra đời đi làm (vì “Thân” cư Quan-Lộc dễ phải đi làm ) đã là một điều không hay cho phụ nữ mà lại còn bị làm khó dễ đủ thứ (vì Sát Tinh và Tuần Triệt án ngữ) thì thử hỏi tư cách của người đàn bà bị tổn thương hay không? Hơn nữa, phụ nữ khi bị làm khó dễ thường thường (nhất là thời bây giờ ) hay liên quan đến tình cảm, sắc đẹp, vì nếu tỏ ra đứng đắn nghiêm trang thì hay bị cấp trên làm khó dể lung lạc tâm hồn, còn nếu chịu chiều lụy thì có ngày mất danh tiết như chơi . Vì vậy khi áp dụng câu phú này ta phải hết sức chú trọng đến cung Mệnh, nếu có nhiều sao tự chủ và đứng đắn là chỉ đoán công danh gián đoạn, thăng trầm, còn nếu thấy có quá nhiều sao “lã lướt” (như Riêu, Mộc, Cái, Đào Hồng ..) thì có thể quyết đoán là mất danh tiết dể dàng, nếu không muốn nói là bị” hội đồng “(tôi xin lổi phải dùng chử này để nói lên được trung thực phần nào ngụ ý của tôi).Trường hợp sau này, có điều lạ là dù cho cung Phu Quân tốt đẹp mà vẫn không thoát được, có lẽ là sau khi bị thất tiết nhiều lần rồi sẽ lấy được chồng đàng hoàng, được yên duyên phận .Còn gặp trường hợp cung Phu Quân quá xấu mà cung Phúc Đức cũng tệ luôn thì dù không có Tang Hổ cũng vẫn cô đơn và ngay cả về già cũng vậy, khó lòng lập gia đình được.

Tuy câu phú này áp dụng rất linh động nhưng theo kinh nghiệm riêng, tôi khuyên quý bạn nên e dè ngay đối với trường hợp phụ nữ có Thân cư Quan Lộc bị Tuần, Triệt án ngữ vì không cần sát tinh hội chiếu nếu Mệnh hơi “yếu” một chút là có thể bị thất tiết được rồi và nếu cung Phu Quân hơi xấu nữa thì chẳng cần yếu tố Tang Hổ hợp chiếu về cung Quan cũng vẫn bị cô đơn (nhất là khi Mệnh có Cô Quả, Hình Đào)…

Cũng như bài trước về phú Tử vi, bài hôm nay cũng chỉ cho phép tôi bàn được có ba câu, như vậy quý bạn hơi sốt ruột về số lượng câu phú. Nhưng tôi nghĩ rằng biết được câu nào thì cần phải thật chắc ăn, thật thông suốt thì mới có lợi chứ nếu biết thật nhiều câu phú mà áp dụng bừa bãi, sai lầm thì thực không có gì tai hại và thất vọng cho bằng. Vậy mong quý bạn thông hiểu đường lối của tôi khi viết loạt bài về phú Tử vi. Tuy nhiên, nhân dịp này tôi xin thưa trước quý bạn là nếu thì giờ cho phép, tôi sẽ trình bầy thêm một số câu phú khác trong Lịch sách văn nghệ Tiền phong 1975 để số lượng phú được dồi dào vì Tòa soạn VNTP có nhã ý nhờ tôi viết thêm cho cuốn lịch sách nêu trên.

 

Phong Nguyên

Advertisements

TÌM HIỂU MẤY THÀNH NGỮ VỀ SỐ MỆNH, GIẢI THÍCH QUA TỬ VI


1) Người ta tuổi Ngọ, tuổi Mùi
Còn tôi ngậm ngùi vì đứng tuổi Thân

Tìm hiểu theo hệ thống Tử vi:
a) Tuổi Ngọ, Khốc Hư an vào cung Tí. Khốc Hư đắc địa. Hai sao này chủ sự: khóc và thở dài. Nhưng đắc địa, hai sao hung tinh này biến thể trái ngược hẳn lại. Thiên Khốc thành tiếng cười vui. Thiên Hư thành tiếng thở ra vui vẻ như có lối thoát sự ấm ức trong lòng, thở dốc ra vui mừng.

Tuổi Mùi, an Đào hoa ở Tí, Hoa Đào nở giữa đêm thanh, mát còn gì may mắn, đẹp hơn nữa.

c) Tuổi Thân thuộc Kim, rất kỵ Linh, Hoả, Thương, Sứ, dù Mệnh an ở cung nào cũng có thể gặp một trong bốn sao trên.

2) Tân biến vi toan
Phong lưu thì ít gian nan thì nhiều

Tìm hiểu qua hệ thống Tử vi:
Phép an tứ Hóa (tức là Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hóa Kỵ). Tuổi Tân an sao Hóa Kỵ với Văn Xương.

Văn Xương là tiêu biểu cho văn chương của một người, cái gì văn vẻ của kẻ ấy. Nay cái văn vẻ ấy bị Hóa Kỵ làm hoen ố rồi thì còn gì là đẹp nữa.

Tìm hiểu Phú tử vi


  • Đế toạ Thiên la
  • Thân cư Triệt xứ
  • Tử vi nam Hợi, nữ Dần cung
  • Thất sát Tý, Ngọ, Dần, Thân
  • Đế toạ La Võng

Trên Giai phẩm KHHB này tôi đã có dịp trình bầy với quý bạn một số câu phú thông thường, nay xin quý bạn cùng tôi đi sâu vào khu rừng phú Tử vi để lượm lặt những câu khó khăn và lý thú hơn. Tôi cố gắng bàn kỹ càng và tỷ mỷ từng câu, với kinh nghiệm riêng và sau khi đã tham khảo ý kiến của nhiều bậc cao thủ về Tử vi, để giúp quý bạn áp dụng được chính xác và linh động hơn. Qua bài này quý bạn sẽ hiểu lý do tại sao tôi đã thúc đẩy quý bạn học thuộc lòng cách an sao trên bàn tay, vì chỉ có cách đó mới thấu hiểu được mau lẹ các câu phú và mới giải đoán được đúng mức.

1.Đế toạ Thiên la, Thân cư Triệt xứ, cư Giáp Kỷ nhân, chung niên nan toại chí, đa trái thê nhi

Giải nghĩa: Nếu Mệnh đóng tại Thìn (Thiên la) có chính tinh Tử vi (Đế) toạ thủ mà “Thân”” (không phải cung Thân) lại đóng tại cung bị Triệt án ngữ và gặp tuổi Giáp, Kỷ thì suốt đời không toại nguyện về công danh sự nghiệp, ngay cả vợ con cũng phải chịu nhiều trở ngại ngang trái.

Nhận xét: Sau khi hiểu rõ nghĩa câu này, quý bạn thắc mắc chung như sau:
Tại sao chỉ đề cập đến Triệt án ngữ tại Thân chứ không nói đến Triệt án ngữ tại Mệnh, vì Mệnh có hai chính tinh Tử vi và Thiên Tướng là các sao sợ Triệt nhất?

Tại sao chỉ có hai tuổi Giáp, Kỷ mới bị ảnh hưởng xấu như vậy?
Sau hết, tại sao cách trên lại gây trở ngại cho vợ con mặc dầu không ảnh hưởng trực tiếp đến các cung Thê và Tử tức?

Về điểm một, quý bạn thấy rằng nếu Triệt án ngữ ngay tại Mệnh thì tuy xấu thật nhưng chỉ cản trở cho tiền vận là thời thường chưa có công danh, cho nên câu phú chỉ đề cập đến trường hợp Triệt án ngữ tại “Thân”, tức là khoảng thời gian hợp lý cho công danh. Hơn nữa Triệt án ngữ tại cung Quan lộc mới hại trực tiếp cho công danh, còn ở Mệnh thì cản trở chung cho mọi phương diện. Ngoài ra, vì các tuổi Giáp, Kỷ (có Triệt án ngữ tại Thân Dậu) là hai tuổi chịu ảnh hưởng xấu cho nên không thể đặt vấn đề Triệt án ngữ tại Mệnh vì như thế những điểm xấu khác (mà tôi nêu ra dưới đây) sẽ không có nữa.

Còn về điểm 2 và 3 (tôi bàn chung cho tiện vì có sự liên quan mật thiết với nhau), ngoài sự tai hại của Triệt án ngữ ngay tại cung Quan lộc như đã nói trên, hai tuổi Giáp, Kỷ còn chịu thêm nhiều điểm bất lợi khác chứng tỏ sự lận đận trên đường công danh. Như trường hợp tuổi Giáp là phải có Lộc tồn cư Dần và theo câu phú thì Mệnh cư Thìn là cung thê cư Dần (có Tham lang toạ thủ theo cách bố cục đương nhiên). Khi cung Thê có Lộc tồn mà cung Quan bị Triệt án ngữ thì cách xấu, chứng tỏ người chồng phải về…xua gà cho vợ. Ngoài ra, cung Thê còn có chính tinh Tham Lang thu hút các sao Hoá Lộc ở cung Quan, Hóa Quyền ở Thiên Di chiếu về lại càng nói lên sự quán xuyến của người vợ khiến cho người chồng phải bị lệ thuộc quá nhiều vào vợ, và đáng tiếc là người vợ lạ không được đàng hoàng, nết na vì Tham Lang hội Lộc tồn chủ về lòng ích kỷ, tham lam vô bờ bến, luôn luôn đặt đồng tiền trên hết, tình nghĩa vợ chồng chỉ là thứ yếu. Có lẽ nên hiểu “đa trái” trong câu phú là chồng phải chịu nhiều sự ngang trái về vợ hơn là chính người vợ phải bị lận đận, vất vả. Sau hết ta còn lưu ý về điểm đại hạn ở giai đoạn ngoài 40 tuổi lại ở ngay cung Quan lộc bị Triệt (tuổi khác đại hạn này cũng ở cung Quan nhưng không bị Triệt), cho nên công danh càng bị kệt, nhất là mạng có Tử vi, Thiên Tướng tối kỵ hạn có Triệt án ngữ.

Đối với tuổi Kỷ tránh được Lộc tồn cư Thê thì lại có Hóa Quyền nhảy vào (Quyền đồng cung với Tham Lang), như thế còn nhục nhã hơn vì Tham Lang hội Hóa Quyền cư Thê chứng tỏ người chồng hoàn toàn bị vợ nắm đầu, không còn có quyền quyết định bất cứ việc gì. Phải chi cung Quan không bị Triệt thì có thể ở nhà sợ vợ nhưng ra ngoài xã hội vẫn có địa vị, uy quyền. Như vậy, nói tóm lại tuổi Kỷ còn tệ hơn cả tuổi Giáp.

Còn về phương diện con cái bị “đa trái”, chúng ta có thể suy luận ra là khi người cha đã lận đận trên đường công danh đến nỗi phải trông cậy vào vợ thì đương nhiên con cái phải chịu ảnh hưởng, nhất là khi cha lại vất vả đúng vào thời kỳ con cái đã khá lớn. Nếu nói rằng con cái có thể nhờ mẹ được trong trường hợp kể ra cũng không được hữu hiệu vì mẹ có Tham lang kia chắc gì đã hết lòng với con cái mà còn có thể hướng tâm hồn về những chuyện ám muội khác. Riêng về khía cạnh Tử vi thì cung Tử tức chỉ có Nhật, Nguyệt cư Sửu mà không được cách gì tốt bổ túc thì đương nhiên con cái phải vất vả (tuổi Giáp còn đỡ một chút vì có Hóa Kỵ đồng cung với Nhật Nguyệt).

2.Tử vi nam Hợi, nữ Dần cung, Nhâm Giáp sinh nhân phú quý đồng.

Giải nghĩa: Câu này cũng không có gì mới lạ với quý bạn, vì nhiều sách tử vi có đề cập tới. Nhưng đáng tiếc là sách nào cũng đều nói chung là tuổi Nhâm Giáp áp dụng cho cả nam lẫn nữ, chỉ có khác là cung Dần dùng cho Nữ và cung Hợi dùng cho Nam. Thực ra chữ Nhâm chỉ áp dụng cho Nam và chữ Giáp áp dụng cho Nữ mà thôi.

Nhận xét: Thực vậy, nếu xét về cách bố cục của các sao, ta thấy trường hợp nam có Tử vi cư Hợi (có Thất sát đồng cung), tức là được cách “Tử Sát đồng lâm Tỵ, Hợi nhất triều phú quý song toàn”, nếu tuổi Nhâm mới thực là tốt vì có Lộc Tồn đồng cung thêm cả Hóa Quyền (tuổi Nhâm theo câu “Lương Vi Tả Vũ” về cách an Tứ Hóa). Cung Tài có Hóa Kỵ (Kỵ nằm cung này rất đúng chỗ), còn Hóa Khoa thì tuỳ theo Tả Phụ nên không thể xét đến. Như thế làm gì không quyền quý. Còn gặp tuổi Giáp thì kém hay hẳn vì Lộc tồn sẽ chạy sang cung Điền chứ không còn ở Mệnh nữa (Tử Sát mất Lộc tồn thì kém nhiều), còn Hóa Lộc, Hóa Quyền chạy sang cung Quan gặp Liêm Phá hãm địa cũng không hợp, mà nhất là tại xung chiếu về cung Thê làm cho vợ lấn áp chồng thì cũng không hay (vì có sẵn Thiên Tướng mà được Quyền Lộc xung chiếu sẽ trở nên oai quyền hơn nhiều, nếu chỉ có Thiên Tướng không thôi, như trường hợp tuổi Nhâm, thì lại là vợ đảm đang, nết hạnh).

Về trường hợp phụ nữ cũng vậy, chỉ áp dụng chữ Giáp mà thôi, vì như thế mới có Lộc tồn tại mệnh hội Tử Phủ cư Dần thì còn gì phúc hậu cho bằng. Còn về bộ Tứ Hóa (theo câu an “Giáp Liêm Phá Vũ Dương”) thì Hóa Lộc cư cung Quan, Hóa Quyền cư cung Phu quân, Hóa Khoa cư cung Tài bạch, Hóa Kỵ cư cung Phụ mẫu. Khi Hóa Lộc cư Quan thì đương số được cách Song Lộc, như thế tiền để đâu cho hết, nhất là hội Tử Phủ là cách vượng phu ích tử lại càng hay cho chồng con, dù có nằm nhà cũng ích lợi cho chồng vì Hóa Lộc xung chiếu về cung Phu có Hóa Quyền đóng ở đó là chồng đủ khả năng nuôi dưỡng vợ và có uy với vợ. Đó cũng là cách hay cho người đàn bà. Ngoài ra, còn Hóa Khoa cư Tài bạch lại càng chứng tỏ phong thái, tư cách trọng hậu của người đàn bà về phương diện tiền tài. Nếu áp dụng cả chữ Nhâm, ta thấy lệch lạc hẳn vì khi đó Lộc tồn ở cung Tử tức (là điều không hay). Hóa Lộc ở cung Nô bộc, Hóa Quyền ở cung Mệnh cũng là cách dở (người xưa quan niệm đàn bà không nên có Hóa Quyền tại Mệnh vì như thế là lấn áp chồng làm mất hạnh phúc gia đình), do đó chỉ còn trông cậy vào Hóa Khoa cho thêm phần tốt đẹp thì lại chưa thể chắc có sao đó tại Mệnh hoặc Tài, Quan hay không, vì Hóa Khoa tùy thuộc vào tả phụ tức là tuỳ theo tháng sinh). Như vậy, tuổi Nhâm đâu có gì là hay.

Sau hết, còn một điểm tối kỵ là tuổi Nhâm thì Triệt đóng ngay tại cung Dần, Mão, tức là Tử Phủ bị trực tiếp án ngữ, như thế khó lòng phú quý được. Tóm lại, ta không thể dùng cả chữ Nhâm cho phái nữ trong trường hợp câu phú nêu trên.

3.Thất Sát Tý, Ngọ, Dần, Thân thọ khảo

Giải nghĩa: Câu này rất dễ hiểu và thông thường, có nghĩa là Mệnh tại các cung Tý, Ngọ, Dần, Thân, nếu có Thất Sát (đương nhiên là độc thủ) thì sống lâu.

Nhận xét: Về phương diện tìm hiểu ý nghĩa cho tỉ mỉ thì chẳng có gì nhưng về phương diện ứng dụng thì quả thực câu này là con dao hai lưỡi vì tôi đã nghiệm được khá nhiều lá số chỉ vì cách này mà chết non hoặc chết bất đắc kỳ tử. Có thể nói câu này sai nhiều hơn là đúng. Không những thế lại còn có câu phú trái ngược với câu này là “Thất sát đơn thủ mệnh viên vô khả cứu trung tâm chi hạn” (nghĩa là Mạng có Thất Sát đơn thủ thì khi vào hạn La Võng thì khó cứu nổi), như thế ta lại càng cần dè dặt khi áp dụng câu phú trên. Thực thế, khi Mạng có Thất Sát lại hội đủ cả Kình, Hổ, Khốc, Hư, Tang, Đà hoặc hạn gặp những sao đó dù cho không phải cung La Võng cũng rất khó bảo toàn tính mạng. Tôi đã từng được coi những lá số Mạng có Thất Sát độc thủ mà hạn chỉ gặp có một Kình Dương cư Ngọ (đại tiểu trùng phùng) thế mà cũng bị chết phí mạng.

Nói tóm lại, câu trên tôi nêu ra không phải để quý bạn dùng mà thực ra để quý bạn đề phòng khi áp dụng.

4.Đế toạ La Võng hoàn vi phi nghĩa chi nhân

Giải nghĩa: Mệnh tại Thìn, Tuất nếu có Tử vi toạ thủ (tức là có Thiên Tướng đồng cung) là người chỉ làm những chuyện phi nghĩa.

Nhận xét: Câu này cũng vậy, về ý nghĩa chẳng có gì cần tìm hiểu, nhưng về việc ứng dụng ta cũng cần dè dặt, vì tôi đã gặp nhiều trường hợp chẳng có gì là thủ đoạn, gian manh cả. Thực ra, Tử Vi, Thiên Tướng là hai sao trượng phu, đôn hậu thì dù bị Thiên La cũng chỉ giảm khả năng chứ tại sao lại đổi tánh tình đi được. Sở dĩ cách này bị kết án vì có Phá quân cư Thiên Di là sao lưu manh, thủ đoạn cứ lôi kéo 2 chính tinh trên hoài. Vậy khi thấy có thêm cách làm cho Tử, Tướng vững trở lại thì chớ vội quyết đoán theo câu phú. Tỷ dụ như người tuổi Nhâm thì có Hóa Quyền tại Mệnh (vì Quyền đồng cung với Tử vi) nên 2 chính tinh Tử vi, Thiên Tướng “hồi sinh” trở lại, nghĩa là có đủ uy quyền và bản lãnh để đối phó với sao Phá quân ở cung xung chiếu, và sao Phá quân lúc đó đâu còn khả năng lôi cuốn mà lại còn bị Tử Tướng chi phối. Tuy nhiên, trong trường hợp này chưa hẳn là hanh thông cho Tử Tướng vì có Kình Đà hội chiếu về Mệnh (tuổi Nhâm Lộc Tồn tại Hợi, thì Kình ở Tý, Đà ở Tuất), nhưng về phương diện “phi nghĩa” thì không đúng mấy. Chỉ ngại trường hợp Tử Tướng bị Tuần, Triệt án ngữ thêm (như tuổi Bính, Tân có Triệt tại Thìn, Tỵ) hoặc có Hóa Quyền đồng cung với Phá quân thì sao Phá quân lúc đó tha hồ thao túng Tử Tướng và do đấy vấn đề “phi nghĩa” mới đặt ra được. Ngoài ra, ta cũng nên nhớ rằng thời phong kiến bên Trung Hoa, vấn đề trung thành với vua gần như tuyệt đối, hễ ai làm phản là bị kết tội bất trung, dù cho vị vua đó là hôn quân chăng nữa, chẳng thế còn có câu phú “Tử Tướng Thìn, Tuất, quân thần bất nghĩa”, nhưng thời đại này mà còn áp dụng câu phú trên một cách máy móc thiết tưởng không còn hợp thời nữa…

Vì mỗi câu phú được mổ xẻ tỷ mỷ nên mới có được 4 câu đã hết một bài, mong quý bạn đừng sốt ruột. Tôi sẽ tuần tự nêu ra nhiều câu khác trên giai phẩm này theo chiều hướng như trên và trong tương lai, nếu có thể tôi sẽ in riêng một tập về các phú tử vi có chú giải thật kỹ lưỡng. Quý bạn sẽ được thông báo kịp thời khi đó.

Phong Nguyên

DÙNG TỬ VI ĐOÁN ĐƯỢC TÊN NGƯỜI ?


Mấy chuyện lạ mà có thật: Cái tên cũng là tiền-định?

Ở một số giai phẩm trước tôi, đã có một bài giải thích về một cách Phú của cặp Nhật-Nguyệt (Thái Dương, Thái âm). Đó là cách “Thạch Trung Ẩn Ngọc” để xác định về hình tượng của Nhật-Nguyệt.

Một ít về Dịch số

Khi nghiên cứu về những lô số của Lạc Thư, ta thấy những số được xếp đặt như sau: Số 5 ở giữa, số Trung-Ngũ. Bốn số Thiên 1, 3, 7, 9 đứng theo thế của một vòng tròn. Còn 4 số Địa 2, 4, 6, 8 ở bốn góc hợp thành một hình vuông.

Tròn chỉ trời, vuông chỉ đất. “Lạc Thư thể phương nhi dụng viên”. Tức là ta đã nhìn thấy trời ở ngay trong đất. Hay nói nôm na là: muốn biết thiên, cứ địa mà ngắm (ngược lại cũng thế). Hay là có thể cho rằng: Ở dưới đất này có cái gì thì trên trời cũng có cái đó, ngược lại, trời như thế nào thì đất được xếp đặt y như thế ấy. Trời là Tượng, mà đất là Hình. Tại thiên thành Tượng, tại Địa mới thành Hình vậy. Cho nên nói: Châu Ngọc là Hình Tượng của Nhật Nguyệt, ở dưới đất này, những hạt châu, hạt ngọc… đó là mặt trời, mặt trăng vậy.

Từ những Hình Tượng này, tôi rút ra được một đặc tính, một vấn đề Tử Vi: Đó là cái tên của chúng ta xét qua Tử Vi.

Ngày xưa các cụ thường nói: “Nhất ẩm nhất trác giai do tiền định” – Uống một ngụm, ăn một miếng còn được định từ trước, huống hồ cái tên? Tại sao lại không có số? Ta thử tìm hiểu ngày xưa:

Vài chuyện chứng minh

– Tục truyền rằng ở bên ta: Cụ Nguyễn Công Trứ khi phá đất hoang để lập nên hai Huyện Kim Sơn và Tiền Hải thuộc tỉnh Nam Định, Thái Bình bây giờ, có phá ngôi miếu thờ cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, thấy ở dưới bàn thờ có bật lên một bia đá, có ghi câu như sau:

Minh Mạng thập tứ

Thằng Trứ phá đền

Phá đền thì phải làm đền…

Tại sao Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm lại biết được vào năm Minh Mạng thứ 14 có “Thằng” tên Nguyễn Công Trứ đến phá đền? Sau Nguyễn Công Trứ sợ phá phải làm trả lại ngôi đền thờ này (làm đền!)

– Ở bên Tầu: Vào cuối đời Tam Quốc (hồi thứ 117), sau khi Vua Ngụy là Tào Hoán, do Tư Mã Chiêu chủ trương đánh dẹp, đã chiếm trọn Đông Ngô rồi bèn sai hai tướng là Chung Hội với Đặng Ngải tiến binh, chiến công qua lấy đất Thục nàh Hậu Hán. Chung Hội đi đường chính qua ải Nam Trịnh tiến vào Hán Trung. Đặng Ngải chiếm công, đi đường tắc ngầm qua ngả âm Bình để tiến Thục trước. Khi quân tướng của Đặng Ngải dÙng chăn mền quấn vào người, liều mạng lăn được xuống dưới chân của ngọn núi chọc trời Ma Thiên Lĩnh thì thấy ở đây có dựng lên một cột đá để làm bia , có khắc mấy câu văn và ghi rõ là của “Thừa Thống Gia Cát Vũ Hầu”, đề câu văn như sau:

“Nhị Hỏa Sơ Hưng

Hữu Nhân Việt Thử

Nhị Sĩ Tranh Hành

Bát Cửu Tự Tử…”

Nghĩa là:

“Hai lửa vừa bốc (chỉ năm Viêm Hưng thứ nhất nhà Hậu Hán)

Có gã Việt Thử: lăn xuống như vậy

Hai Sĩ tranh hành (đi)

Chẳng bao lâu, chết cả.

Sau mới biết “Hai Sĩ” đây là Chung Sĩ Quý (Chung Hội) và Đặng Sĩ Tái (Đặng Ngải). Thì ra Khổng Minh đã biết được tên của hai người này từ trước.

Do đó, kết luận rằng: Cái tên của chúng ta cũng có số vậy. Nhìn vào Tử Vi, nếu thông đạt, có thể biết được.

Tên của người được Nhật-Nguyệt

Dựa vào hình tượng của Nhật, Nguyệt ở trên, tôi có thể nói rằng những người mà Mệnh, Thân chịu ảnh hưởng sáng sủa của Nhật, Nguyệt thường có tên là Châu hay Ngọc với điều kiện là Nhật Nguyệt phải được sáng sủa minh bạch mới đúng, còn không nó sẽ biến đổi sang tên khác như: Tuấn, Tú, Chính, Nghĩa hay Phong, Lưu, Nho, Nhã chẳng hạn, tÙy theo những sao tọa thủ đồng cung với nó.

Tôi đã có tất cả 20 lá số và địa chỉ rõ ràng của 20 vị có tên Châu hay Ngọc, và tất cả 5 vị mà cung Thê có Nhật Nguyệt tọa thủ đề có vợ tên là Châu hay Ngọc cả. Dĩ nhiên trong khuôn khổ của bài báo tôi không thể trưng ra tất cả những lá số này để làm bằng được, tốn cột báo mà vô ích. Bây giờ chỉ còn trông vào sự phán xét của những bậc tiền bối và những vị đang nghiên cứu về tử vi để “nghiệm lý” mà thôi.

Một chuyện lạ

Ở đây xin đưa ra hai lá số có thật một trăm phần trăm để minh chứng cho điều này. Chuyện của chính gia đình tôi.

  • Chuyện thứ nhất:
    Nhà tôi tên Thủy, năm nay sanh một cháu gái. Tôi có ý định đặt tên cho cháu là Trần Thị Nguyệt Thủy (đệm chữ Nguyệt vào để đối với tôi Trần Nhật Tường). Đến khi sinh cháu ra, bấm tử vi ngay, thấy mạng lập tại Dần có Thái âm, Thiên Cơ tọa thủ với Thái Tuế, Tràng Sinh và Lộc Tồn (2 sao này vớt lại cái thế “Nguyệt tàn Dần vị” của Thái âm. Trường hợp này, Thái âm được coi như sáng sủa tốt đẹp vậy). Thân cư Tài Bạch tại Tuất: sao Thiên Đồng tọa thủ. Tôi tự nghĩ: Năm nay Giáp Dần thuộc hành Thủy, Thân Mạng là hai sao Thái âm, Thiên Đồng Thủy… đặt tên cho cháu là Nguyệt Thủy là hợp số mệnh lắm rồi. Ai ngờ khi đặt bút viết lên tờ đơn khai sanh cho cháu lại không ghi Nguyệt vào mà viết thành chữ Ngọc, đầu óc tôi lúc đó không hề nghĩ đến Hình Tượng của Nhật-Nguyệt mà nó hoang mang cứ y như là có ma trêu, quỷ ám gì đó! Thế là tên thật sự của cháu thành: Trần Thị Ngọc Thủy. Về nhà, mọi người cứ cái tên Thủy của cháu không gọi vì sợ đụng với tên nhà tôi và cứ gọi cháu là con bé Ngọc. Thế là Hình Tượng của sao Thái âm đã thành và cái tên chắc chắn là đã có số vậy.
  • Chuyện thứ hai:
    Tôi có một ông anh, tuổi Canh Dần, Mạng lập tại Dậu có Đào Hoa ở Mão trực chiếu. Vì Đào Hoa chiếu mạng nên “đắt đào” lắm. Ngọt ngào, dễ thương nên “Gái theo cứ nườm nượp”. Cung thê đóng tại Mùi; Nhật Nguyệt đồng cung. Nhật Nguyệt ở vị trí này được Tuần, Hóa lộc và Đào Hồng Hỉ trợ lực (Bộ Tam Minh làm tăng sức sáng của Nhật Nguyệt). Nhật Nguyệt trong trường hợp này được coi như sáng sủa tốt đẹp vậy. Nhưng ngặt vì Hồng Loan, Thiên Hỉ bị gia thêm Đà Kỵ với Không Kiếp nên vợ tuy tốt (Nhật Nguyệt sáng) nhưng nhất định vợ sẽ là người không thể còn “Origine” được và hai vợ chồng chắc chắn phải bỏ nhau không thể sống với nhau trên đời. Có bao nhiêu con gái tốt đẹp không chịu. Năm ngoái có một cô có chồng rồi và hình như đã có thai 1, 2 tháng gì đó, bỏ chồng theo ổng, ổng lại chịu mới chết. Hỏi ra mới biết cô đó tên Châu. Năm nay sanh một bé gái. Cả nhà vẫn cười đÙa “Đứa nhỏ này đâu phải con ông, ông chỉ thêm chân thêm tay mà thôi”.
    Thế là hình tượng của Nhật Nguyệt đã ứng và số đã linh diệu vậy.

Bí quyết Tử vi


THẦN KHÊ ĐỊNH SỐ CỦA LÊ QUÝ ĐÔN VỚI CÂU MỞ ĐẦU:
Lục giáp tất tri ngô;
Ngô tri Lục giáp,
Tượng đồ về đâu?

Qua 4 bài về Thần Khê định số, cuốn sách giảng bí quyết tử vi của cụ Bảng Lê QuÝ Đôn, chúng tôi đã trình bầy mấy trường hợp điển hình phải cần đến nét tướng mới giải được Tử vi, là bởi vì bí quyết của cụ Bảng Lê QuÝ Đôn cho hay rằng mỗi người ăn về một chính tinh trên cung Mệnh của mình, cũng có thể thuộc vào một hung tinh tại cung Mệnh đó, và phải trông hình tướng mới thật biết số của người đó tốt (nếu tướng theo chính tinh) hay xấu (nếu tướng theo hung tinh).

Điều này không lạ cho lắm, vì các bạn cứ giở các cuốn sách Tử vi ra mà coi, sẽ thấy giải đoán sẵn mạng có một chính tinh thì hình tướng thế nào; mà mạng có một hung tinh, thì tướng thế nào?

Tuy nhiên có cái lạ, là nếu Mạng có cả hung tinh và chính tinh (thí dụ có Kình Đà và Tử vi) thì hình tướng sẽ thế nào? Hình tướng theo về chính tinh thì đương số ăn theo chính tinh; hinh tướng theo về hung tinh thì đương số bị về hung tinh. Cụ Bảng Lê QuÝ Đôn bảo vậy. Chúng tôi đã yêu cầu cụ Đông Nam á trình bầy đại cương bộ sách Thần khê định số, rồi sau đó mới lại nói tiếp các bài phú trong bộ sách đó (TVS)

Vài lời nói đầu về căn nguyên cuốn sách

Về cuốn Thần khê định số, tôi đã trích ra mấy đoạn và kể về trường hợp có thật trong đời. Như thế tạm gọi là chu đáo trong một lối trình bày. Nhưng còn một nguyên tắc nữa: làm sao để các bạn khảo cứu số tử vi thông suốt được thật sự căn bản cách giải đoán?.

Về điều này, chúng tôi đang sửa soạn phóng theo các hình vẽ giải thích rõ. Trong Thần khê định số, có những hình vẽ, nhưng khó Ý hội được, cần vẽ lại. Đã đành rằng trí óc chúng tôi không thể sánh được với Thần khê tiên sinh (Lê QuÝ Đôn), nhưng chúng tôi nghĩ rằng các cụ ngày xưa chỉ quan niệm Tử vi như một môn bí truyền trong gia đình hay trong bè bạn thân, chứ không truyền bá rộng rãi, cho nên chỉ vài ba nét gạch trong bộ sách là đủ để chỉ dẫn, chứ không có những hình vẽ dẫn giảng cẩn thận và rõ ràng. Ngay cả các câu phú tử vi mà chúng ta thường biết, cũng chỉ là những câu rút gọn, thiếu hẳn phần chân xác, nhiều khi còn sai lầm nữa, khiến người đời nay muốn nghiên cứu gặp khó khăn, mà nếu không cẩn thận là gặp sai lầm tệ hại.

Thằng bé và câu phú Tử vi

Số là thằng Ban (lúc còn nhỏ 2 tuổi) con anh Sước (anh em họ với tôi lúc đó 41 tuổi) được các cụ Tử vi chiếu cố thật kỹ. Mạng nó có Tử Phủ đồng cung, lại có cả Hóa Quyền, Hóa Khoa. Thế là ngon rồi!

Anh Sước mê số Tử vi và Địa lÝ đến nỗi trong đời tôi, tôi chưa thấy ai mê như thế. Một bữa, ba tay thầy Tử vi Địa lÝ là cậu ấm Tân, cụ Phó Tường, ông Cổn cùng đụng đầu tại nhà cha tôi. Cụ Tường là người cùng làng, còn hai ông kia ở Khoái Châu và Phù Cừ, được anh Sước coi như gia sư.

Thật là “tam kiệt đáo gia”. Bữa ăn đầy rượu bỗng trở thành náo nhiệt quanh câu phú “Tử, Phủ ngộ Khoa, Quyền, Lộc, hựu gia Tuần Triệt, Kiếp Không, Hình, Hỏa, phú như bất quÝ hữu hư danh” mà anh Sước nêu lên để thỉnh Ý các cụ.

Một cụ giảng rằng “Tử vi, Thiên Phủ gặp Khoa Quyền Lộc là ngon, nhưng nếu lại thêm Tuần, Triệt, Kiếp, Không, Hình, Hỏa thì giầu cũng như sang (làm lớn) đều không có được, chỉ là hư danh thôi??.

Cụ khác lại bảo:
-Nhưng phải gia thêm cả 6 sao Tuần, Triệt, Kiếp Không, Hình, Hỏa thì mới hỏng.

Cụ khác lại bảo:
-Không cứ! Có khi chỉ gặp 1 trong 6 sao đó cũng là hỏng rồi.

Câu chuyện rồi lại xoay ngay ra chỗ khác.
Cụ Cồn nói:
-Câu phú đúng ra là “phú nhi bất quÝ” chứ không phải là “Phú như bất quÝ”. Có nghĩa là giầu mà không làm lớn. Không phải hỏng tuột đâu, không sang thì còn được cái giầu.

Cụ phó Tường bèn cười hè hè mà nói:
-Câu phú ghi là “Phú như bất quÝ” có nghĩa là giầu cũng như sang, chẳng có con cóc khô gì cả. Nhưng còn “đức năng thắng số” và “đắc địa mới sinh nhân”, được đất mới thành người có tài năng, thì vứt đi đâu. Có biên trong “Địa lÝ chính phả”, cụ Tả Ao còn phải công nhận nữa là.

Anh Sước tôi có vẻ không bằng lòng, còn cha tôi thì cố khỏa lấp. Tôi mới suy nghĩ rằng thằng bé mới hai tuổi, mà các cụ đem một câu phú ra tranh luận không, phỏng để làm gì? Làm sao mà kiểm chứng? Cho nên tôi chỉ coi môn Tử vi như một cái gì không chính xác, cả đến Thần khê định số, tôi cũng chỉ để nó một xó.

Những cơn trầm luân

Cuốn Thần khê định số đã không được tôi quÝ chuộng, lại gặp phải thời ly loạn mà bị những bước trầm luân, mấy năm 1946-1947, tôi bị những bước tù đầy, đưa tôi đến trại giam Bắc Kan.

Bà xã nhà tôi không rõ cuốn sách có giá trị gì, nhưng đó là di tích của người chồng lúc ấy 9 phần chết chỉ còn 1 phần sống, cho nên lúc tản cư, có thu vén cuốn sách mang theo. Vì thế, cuốn sách càng thêm nhuốm bụi đời, lem nhem khá bộn cho nên đôi khi những câu phú có thiếu chữ hay sơ suất một hai chữ, xin quÝ vị cũng cảm thông cho (tuy nhiên, chúng tôi không bao giờ để cho câu phú sai nghĩa).

Câu mở đầu của bộ Thần khê định số

Câu mở đầu của bộ Thần khê định số là:
Lục giáp tất tri ngô,
Ngô tri lục Giáp,
Tượng đồ về đâu?

Câu văn nửa nôm nửa chữ là thơ lạ, nửa là thơ lục bát đó, có nghĩa là?
Xưa kia, tôi cũng có hỏi ông bói Lợn, nhưng ông cười khà khà mà đáp:
-Cháu hỏi làm gì câu ấy?

Có lần, tôi hỏi nữa, thì ông bảo:
-Con thông minh đáo để, con thử tự nghĩ ra mới là đúng, chứ cứ đi mót của người ta, chắc gì người ta bảo thật cho mình, có phải không con?

ông Lợn thật là sỏ lá kềnh!

ông Khóa Soạn giải thích

Nhưng ông Khóa Soạn đã giải thích cho tôi như sau:
-Đó là mấy căn bản đầu tiên để giải lá số tử vi, mỗi người sanh ra trong một năm. Năm ấy thuộc vào một Giáp nào đó, như Giáp Dần, Giáp Thân, có 6 con Giáp chắc cậu phải biết, mỗi Giáp thuộc vào một hành là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa hay Thổ. Câu phú đó có nghĩa là xem 6 con Giáp tất biết mình, tức là phải xem đương số chịu ảnh hưởng nào trong 6 con Giáp, hay là mạng mình thuộc hành nào mà lại sanh vào Giáp nào.

Tôi bảo chưa hiểu rõ, thì ông Khóa Soạn lấy một thí dụ để giải thích.
-Thí dụ tuổi Nhâm Tuất thuộc Thủy và nó nằm trong Giáp của Giáp Dần, thuộc Thủy thì đương số sanh năm Nhâm Tuất có hai phần Thủy. Thế là hạp.

-Xin ông một thí dụ nữa.

-Nếu đứa trẻ sanh vào năm Bính Thìn hay Đinh Tị, tức là Thổ mạng, mà năm sinh lại thuộc vào con Giáp thuộc Mộc mà Mộc khắc Thủy, thì có thể coi như Mạng không phù hợp mà còn bị phá đi phần nào. Tuy nhiên, mỗi lá số còn gồm những yếu tố căn bản khác, phải hòa với nhau rồi mới đủ điều kiện xác định.

Từ vài căn bản đầu tiên tiến dần ra, tôi hiểu dần dần và được nhiều phen kiểm chứng thấy đúng.

Việc chính là tìm xem một người sinh ở năm nào đó, là thuộc con nhà Giáp nào (tất cả có 6 Giáp gồm 60 năm). Rồi phải xét xem Hành của mình thuộc Hành gì so sánh với Hành của con nhà Giáp mà tuổi mình nằm trong đó, đoạn xét xem hình đồ của mình như thế nào, có phù hợp hay không, để mình nắm được trong tay một yếu tố đầu tiên (trong số những yếu tố căn bản khác) để xác định được rằng số mạng của mình khá hay dở.

Tất nhiên đã nguyện phục vụ bạn đọc và để cho một khoa Thần khê định số của Lê QuÝ Đôn khỏi bị mai một, tôi sẽ xin cố gắng trình bầy từng điểm trong phần I của cuốn Thần khê định số, cũng như sẽ lần lượt trình giải phần hai của bộ đó, về hình thể con người ứng hợp hay không ứng hợp với các bộ sao trên lá số Tử vi.

Đông Nam á

Thần khê định số


Một trường hợp lạ, phải dùng đến Thần khê định số
MỘT LÁ SỐ, HAI CUỘC ĐỜI
Mệnh có Nhật, Nguyệt và sự giải đoán của Thần Khê Định Số

Câu chuyện sau đây, chúng tôi có biết hồi năm 1960, lúc cùng với ông Đông Nam á chủ trương một tạp chí về số mạng. ông Đông Nam á có lời rao, bằng lòng đoán lá số cho độc giả, với điều kiện độc giả phải gởi kèm một tấm hình cùng với ngày sanh.

Tôi mới bảo:

Làm vậy không ăn khách đâu. Ai lại mất công đi chụp thêm hình rồi mới được coi số. Người ta đoán số chỉ cần ngày giờ sanh là đủ. Hay là ông cần kiểm điểm thêm bằng khoa tướng, để cho những lời giải đoán Tử Vi thêm chân xác?

Trong đầu óc lúc đó, tôi nghĩ rằng ông Đông Nam á rành khoa tướng, cho nên cần coi mặt để nắm đúng vận mạng con người: nhìn gương mặt để biết tướng văn hay tướng võ, vận mạng rất khá hay vận mạng tầm thường, tiền vận hay hậu vận khá hoặc dở như thế nào? Có biết những nét chính đó để kiểm điểm mới nắm được lá số Tử Vi vững hơn.

Thế rồi tôi lại biết câu chuyện có hai độc giả gửi thư đến yêu cầu đoán số, mà lạ thay, hai độc giả ở hai nơi khác nhau, lại sanh cùng ngày giờ. Rồi một bữa tôi lại được ông Đông Nam á ra nhà Giây Thép để gửi trả bưu phiếu lại cho một trong hai độc giả đó, không xem. Tôi mới hỏi tại sao, ông Đông Nam á không trả lời.

Rất có thể, hồi đó ông cho rằng tôi chưa hiểu thấu được những gì ông nêu ra. Hoặc giả, ông còn nắm một bí quyết nào đó trong việc giải đoán Tử Vi, mà tôi chưa hiểu, vì ông còn cần giữ bí mật.

Như đã kể, một bữa gần đây, tôi được thấy ông đọc lên một số câu phú, nghe lạ tai, vì tôi chưa được nghe bao giờ. Nhân cảm mối tình hiểu biết của ông Ch nhiệm giai phẩm Khoa Học Huyền Bí, ông Đông Nam á đã quyết định nói ra những bí quyết của mình. ông đã nói đến Thần Khê Định Số, bộ sách bí truyền của cụ Bói Lợn (từng nổi tiếng ở chợ Đường Cải, Hưng Yên khi xưa) và là tác phẩm của cụ Lê Quý Đôn sau những năm chiêm nghiệm theo căn bản của Trần Đoàn.

ông Đông Nam á đã bằng lòng viết về Thần Khê Định Số và những trường hợp ông và thầy bói Lợn đã xử dụng để giải đoán số mạng. Trước hết, ông thuật một số câu chuyện thật, trong có những câu phú Thần Khê Định Số kèm vào. Sau đó, ông sẽ ráng giải bày những câu phú chính yếu trong cuốn đó. Mong rằng với loạt bài này, một tác phẩm quan trọng về lý số của cụ Lê Quý Đôn sẽ không bị thất truyền.

Trần Việt Sơn.

Hai người cùng ngày giờ sanh

Hồi đó là 1960. Chỉ cách nhau mấy ngày, tôi nhận được hai lá thư bảo đảm, cùng kèm bưu phiếu, của hai người, một ở Hà Tiên, một ở Thủ Đức, mà lạ thay, cả hai người sanh cùng năm, cùng tháng, cùng ngày, cùng giờ.

Tôi vẫn còn nhớ rõ: Tuổi Ất Hợi, ngày 3 [NL ghi chú: ngày 3 ra lá số VCD. Tuổi Ất mệnh tại Sửu thì Hỏa Lục Cục. Hỏa Cục để có âm Dương tại Mệnh thì ngày 4, 18, 23. Trong đó thấy ghi là ngày 3 thì có thể là ngày 23???], tháng 4, giờ Thìn.

Tính năm nay họ 40 tuổi, nhưng thời đó, họ tuổi 26, cái tuổi đã có ít nhiều quá khứ, như việc học, việc hiển đạt, cha mẹ thuộc loại nào. Điểm quan hệ là đoán xem việc học lực, bằng cấp, sự nghiệp của họ ngay lúc đó, chứ không phải là luận toàn chuyện tương lai, là chuyện quá ngon lành, vì không kiểm chứng.

Cả hai lá số cùng không sai một nét nhỏ cũng Mệnh cung tại Sửu có Thái âm, Thái Dương, Hóa Kỵ, Thanh Long, và ta nhớ ngay đến câu trong Ma Thị phú:

Mấy người bất hiển công danh,
Bởi vì Nhật Nguyệt đồng tranh Sửu Mùi.

Nếu câu đó là đúng, hai chàng đó tất có công danh phát hiện ở chữ “dân vi quý”, tức là dân quèn, được cụ Khổng cụmạnh tôn lên cho xôm tụ. Được hai ngời cùng sanh một ngày, tôi rất mừng, vì thêm được một cơ hội chiêm nghiệm. Quý bạn sẽ bảo: cứ vào nhà thương Từ Dũ, thiếu gì những trẻ sanh cùng ngày giờ? Nhưng đoán số cho trẻ sơ sinh, lại không thể chiêm nghiệm gì hết. Phải được hai người lớn tuổi, sanh cùng ngày giờ, mới có thể chiêm nghiệm.

Tôi xin kể từng bức thư của hai chàng.

Bức thư của chàng Hà Tiên

Bức thư ca chàng ở Hà Tiên chỉ vỏn vẹn có mấy dòng, đại khái:

“Tôi xin gửi bưu phiếu 150đ và một tấm hình cùng ngày sanh của tôi, nhờ thấy giải đoán và xin thầy y theo hạn đã rao là 2 tuần lễ”. Lời thơ nôm na quên cả những lời chúc tụng.

Bức thư chàng Thủ Đức

Kính thưa thầy

(Bức thư kể lể dài dòng, về việc anh chàng đi coi số nhiều nơi và tìm học cũng nhiều nhưng chưa đoán nổi gì rồi tiếp: )

“Sở dĩ tôi viết hơi dài làm mất thời giờ của thầy, là vì tôi có nguyện vọng tìm sư học đạo. Một số đông bè bạn tôi cũng ngưỡng mộ tài năng của thầy, họ chờ đợi bản giải đoán lá số tôi xem sao, rồi sẽ xin thầy giải đoán, và riêng tôi có thể sẽ xuống Saigon để xin yết kiến thầy”.

“Tôi xin gởi theo đây số tiền thù lao. Không những tôi mong sẽ thưởng thêm thầy, mà còn được thầy thâu nhậu làm đệ tử. Môn Tử Vi lúc này được người người công nhận, tôi tin rằng Thầy sẽ làm cho môn này ngày càng thêm rạng rỡ.

Kính chúc Thầy và quý quyến vạn an,

Ký tên ……

Tôi thận trọng để mỗi tấm hình kèm đúng lá thư.”

Giải đoán

Lá số (cùng của hai người) để trước mặt tôi ngắm hai tấm hình, để tìm hiểu xem mỗi chàng chịu ảnh hưởng của những sao nào? Rồi tôi lại tìm hiểu qua 12 cung.

Đã đành rằng cung Mệnh có phần trọng yếu, nhưng những cung khác cũng quan trọng. Theo nghĩa sách, cung Phúc Đức và cung Tài Bạch chủ phát sanh tiền bạc, người giàu hay nghèo là do hai cung này.

Phú đã ghi:

Xuất thế vinh hoa, Quyền Lộc thủ Mệnh Thân chi vị,
Sanh lai bận tiện, Kiếp Không lâm Tài Phúc chi hương.

Từ khi mới oe oe khóc chào đời đã được ăn sung mặc sướng là do Mệnh Thân có Hóa Lộc, Hóa Quyền.

Còn từ nhỏ đã bị nghèo đói ấy là vì Địa Kiếp, Địa Không hỏi thăm sức khỏe ở cung Phúc cung Tài.

Phú Ma Thị cũng chê hai sao Không, Kiếp bằng câu:

Kiếp Không lẩn ở Phúc Tài,
Tán nhiều tụ ít, mấy ai sang giầu.

Mấy cách xấu trên đều có trong lá số, Tài Phúc có sao Địa Kiếp, Thiên Di có Địa Không.

Phúc có ghi:

Quan cung mừng có Đào, Hồng
Thiên Di tối kỵ Kiếp Không lâm vào

Nhìn vào tấm hình của anh chàng ở Hà Tiên, thấy nét mặt tròn trịa thần mắt hiền. Không được nghe tiếng nói, xem xương nên chỉ biết được 3/10 những tánh chất chính, nhưng như thế cũng tạm đủ. Bức thư của anh viết có chữ non, văn non, anh chỉ học bậc tiểu học. Tôi đã có thể đoán sơ sơ rằng anh ta học bậc tiểu học nhưng của cải sẽ nhiều, con cái đều khá, làm nên (nếu thêm là con cái sẽ kỹ sư, bác sĩ chắc nhiều người chịu lắm!).

Nhìn tấm hình của anh chàng ở Thủ Đức, thấy anh có đôi mắt thiếu lương thiện, nét mặt lại hơi lệnh. Bức thư lại nói toàn chuyện nhân nghĩa khéo léo.

Sức hỗ trợ của Thần Khê Định số

Tôi phải xử dụng đến Thần Khê Định số, chương “âm Dương Mệnh Luận”. Mỗi chương dành cho một hạng người, có một sao chính nào đó (hay những sao phụ quan trọng), lại phối hợp thêm với những sao chính hay sao phụ quan trọng tại Thiên Di, Tài Bạch, hay Quan Lộc và tùy theo Thân cư tại đâu.

Lời phú trong Thần Khê Định Số có ghi:

Những người Mệnh có âm Dương
Phải xem ngay mặt, thần quang thế nào
Nếu mặt tròn, không hao chẳng khuyết
Thì tính hiền và biết thủy chung
Lại như thêm cặp mắt trong
Trên đường khoa bảng, có công đạt thành

Ngẫm xem, thấy đó là những nét của anh chàng Hà Tiên nhưng nét đó không phải là của anh chàng Thủ Đức.

Phú trong Thần Khê Định Số lại có ghi:

Những người hứa hẹn khoe mầu,
Mặt thường khuyết hãm, mắt sâu, nhọn mồm.
Phải coi số lại cho tường,
Kẻo lầm: Không Kiếp, âm Dương, Kỵ Hình

Tức là tuy người có âm Dương, nhưng chịu ảnh hưởng của Không, Kiếp, Kỵ, Hình.

Tôi lại đọc tiếp:

Nên suy đoán cho tinh mọi lẽ
Thì mới tường cội rễ sâu nông
Bởi chưng Nhật Nguyệt ngộ Không
Tham tàn e lại bạo hung không lường
Dù thêm có Khúc Xương thủ chiếu
Càng cơ mưu, lắm mẹo, hại đời

(ý nói càng có học, càng xử dụng chữ nghĩa gạt đời).

Đọc lại lá thư của anh chàng Thủ Đức, thấy văn hoa hơn, nhưng khoe mầu, không thật. Tôi có thể đoán thẳng anh chàng Thủ Đức với mấy hàng trích trong mấy câu Thần Khê định số nói trên.

Nhưng tôi đã không giải đoán gì hết. Đoán như vậy sẽ có những hậu quả bất lợi. Nếu đoán bốc thơm, thì lại sai lầm. Tôi đã không trả lời.

Tôi không trả lời cả hai, trong một thời gian đ thử nghiệm hại bài toán.

Lại hai lá thư

Một thời gian sau, tôi nhận được của chàng Hà Tiên bức thư ngắn như sau:

“Thưa Thầy,

Cách đây ít bữa, tôi có gửi lân thầy tấm bưu phiếu 150đ và ngày sanh của tôi cùng tấm hình, để nhờ thầy đoán Tử Vi. Thầy đã nhận được chưa, nếu chưa, xin thầy cho tôi biết. Cám ơn thầy”.

Bức thư ngắn. Nhưng tế nhị, vừa phải.

Và sau đây là bức thư tôi nhận được của chàng Thủ Đức:

ông Đông Nam á tức Phạm huy Quang.

ông trả lại ngay cho tôi số tiền 150 đồng mà tôi chắc là ông đã lãnh rồi, nhưng không lấy số Tử Vi gì cho tôi. Tôi biết rằng ở đời này có những kẻ kiếm ăn kiểu như ông, lừa người, nhưng sao tôi cứ mắc lừa hoài. Trong hạn 10 ngày, nếu tôi không nhận được số tiền trả lại, tôi sẽ kiện cho ông vào tù. ông đừng tưởng tôi không thể làm được việc đó. Cuống măng đa, tôi vẫn giữ đây. Thôi chào ông”.

Bức thư chẳng còn nhân nghĩa gì hết, thật khác hẳn với bức thư đầu. Tôi cười lớn lên, thử nghiệm thế là đã xong. Thần Khê Định Số quá là đúng. Hai lá số in như nhau, nhưng phải nhìn vào nét tướng mới thấy chàng Hà Tiên có gương mặt bầu bĩnh và mắt sáng đợc sao chủ là Thái âm, Thái Dương. Còn chàng ở Thủ Đức có mắt gian, có mặt méo, thì sao chủ lại không phải là Thái âm, Thái Dương, mà là Hóa Ki, Thiên Hình. Cùng một lá số, nhưng khác vận mạng, phải lấy Thần Khê Định Số ra để phân biệt.

Trả lời

Tôi đã lập tức lấy giấy bút ra để trả lời cho hai người. Cho chàng ở Hà Tiên, tôi kể cái chuyện trì hoãng để thử lòng nhân hậu. Và tôi giải đoán rõ ràng vận mạng tốt trong tương lai.

Với chàng ở Thủ Đức, tôi gởi trả lại tấm bưu phiếu, và tôi viết thêm: “Sở dĩ chậm trả lời là để thử nghiệm cái tánh tình của con người sau khi đã biết rõ tánh tình đó qua gương mặt tôi lại có được lá thư của ông, ấy là đã rõ. Số của ông không ăn về Thái âm, Thái Dương, mà chỉ vì Không Kiếp Kị Hình là bởi vì nét tướng của ông cho thấy như vậy, và 2 lá thư của ông cũng bộc lộ rằng điều đó là đúng, chúng tôi thí nghiệm rõ ràng. Xin gửi trả ông tấm bưu phiếu chắc ông thấy rằng chúng tôi đã không lãnh tấm bưu phiếu đó. “Chào ông”.

 

Bài của Đông Nam Á
Trần Việt Sơn giới thiệu

%d bloggers like this: