Tại sao một mình tôi không có con ?


Người ta sống trên đời, có rất nhiều việc phải làm. Lúc còn nhỏ, phải chăm chỉ học hành để vượt qua hết kỳ thi này đến kỳ thi khác, từ trung học đến đại học. Sau khi tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp hay đại học, còn phải tiếp tục tu nghiệp, hoặc tham gia nghĩa vụ quân sự, mãn nghĩa vụ quân sự trở về lại phải đi tìm việc làm để mưu sinh, lúc này phải cố gắng làm việc để kiếm tiền, mục đích là để dành một ít tiền để kết hôn. Cổ nhân nói :”Nam đại đương hôn, nữ đại đương giá” (Trai lớn lên phải cưới vợ, gái lớn lên phải lấy chồng), mục đích của việc kết hôn là xây dựng một tổ ấm để nuôi dạy thế hệ kế tiếp, vì trên thế giới tất cả sinh vật đều có sứ mệnh thiên phú là lưu truyền nòi giống, ngay cả loài thực vật mỗi năm cũng phải ra hoa kết trái, gieo rắc hạt giống của nó khắp mặt đất, khiến cho đời con đời cháu của nó mãi mãi tồn tại.

Nhưng có người sau khi kết hôn mà không sinh được con. Cổ nhân nói :”Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại” (Có ba điều bất hiếu, trong đó không có con nối dõi là lớn), trong lòng buồn bực khổ sở, thậm chí đi cầu con, đi xem bói … Người ta cũng nói :”Dưỡng tử phòng lão” (Nuôi con để nhờ cậy khi tuổi già). Thời đại hiện nay thì khác, quan niệm ấy đã trở lên lạc lõng. Nếu tổ tông có đức, sinh con cái hiếu thuận, về già có con phụng dưỡng, nếu sinh ra con cái bất hiếu, thế là đời sẽ khổ thêm. Vì thế chúng ta sinh đẻ, nuôi nấng con cái chỉ coi như là một nghĩa vụ để khỏi hổ thẹn với tổ tiên mà thôi.

Nhưng lại có một vấn đề thú vị là : Tại sao có người không có con ? Có người có con rất hiếu thuận ? Có người có con bất hiếu ?

Chuyện kể rằng ngày xưa có một phú ông, thường ngày vẫn hết sức làm việc thiện, như đem gạo phát chẩn cho người nghèo, giúp người trong lúc khốn khó, cứu người trong cơn hoạn nạn, đúng là phú ông này đã làm nhiều công đức, nhưng điều mà người ta lấy làm tiếc cho ông là ông không có con. Một hôm, ông lặn lội đến một ngôi chùa cổ, ra mắt vị lão hòa thượng ở đây rồi thưa :

– “Bạch hòa thượng con đã làm không ít việc thiện trong đời, thế mà trời xanh không có mắt, không ban cho con một đứa con, xin hòa thượng hãy giảng cho con hiểu.”

Lão hòa thượng bật cười ha hả :

– “Này thí chủ, đây là do kiếp trước thí chủ không mắc nợ ai, mà cũng không ai mắc nợ thí chủ !”

Vị lão hòa thượng quả là người thông đạt, ông sử dụng cách lý luận nửa thật nửa hư để an ủi phú ông để phú ông ít nhiều cũng cảm thấy lòng nhẹ nhàng hơn, không đến nỗi lo lắng cả một trách nhiệm lớn đang gánh chịu.

Muốn nói đến chuyện có con hay không, con cái giỏi giang kém cỏi thế nào, có hiếu hay không … xin hãy xem danh tác của Tôn Tư Mạc đời Tùy Đường, trong đó có đoạn :

“Muốn cầu có con, trước tiên phải biết bản mệnh của vợ chồng, ngũ hành phải tương sinh và đức độ hợp nhau, đồng thời bản mệnh không nằm trong Tử, Hưu, Phế, Tử, Mộ thì cầu con ắt được. Nếu bản mệnh của vợ chồng có ngũ hành tương khắc, và cùng với Hình Sát xung phá, đồng thời bản mệnh ở trong Tử, Hưu, Phế, Tử, Mộ thì cầu con không được, cẩn thận đừng cố ý để có con, vì dù có con đi nữa về sau càng mệt thêm. Nếu ngũ hành tương sinh và gặp phúc đức, thì vẫn phải tuân theo phép tắc, tránh mọi điều cấm kị thì con sinh ra thì cực kỳ tốt đẹp, không thể nói hết.”

Advertisements

Bói quẻ đầu xuân


Cúi đầu xuống nhìn vào tờ giấy có ghi năm sanh, tháng đẻ của cô gái, vị thầy bói lừng danh cả nước nghiêm trang bấm đốt ngón tay, lẩm bẩm:

– Vậy là Bính Tý, mạng thủy, Giang hà Thủy, nước trên sông. Năm nay là Qúy Tỵ thì Tiểu mộc đóng tại cung Cấn. Tuổi chuột mà gặp năm con rắn, ái chà chà, phiền đấy.

 

Rồi bất chợt, thầy ngẩng đầu lên. Qua lớp kính mát đen ngòm, thầy nhìn thẳng vào mặt cô gái, hỏi giật:

– Cô có 3 nốt ruồi đen ở đùi bên trái, đúng không?

Cô gái giật mình cái thót, thảng thốt:

– Thưa, đúng vậy! Thầy nói như thần.

Rồi cô hỏi, giọng âu lo:

– Thưa 3 nốt ruồi đó tốt hay xấu ạ?

Thầy bói:

– Không tốt lắm nhưng cũng không hại chi. Đó chỉ là dấu hiệu cho biết cô sẽ có ba người tình.

Đào hoa chiếu mạng mà! Hồng nhan đa truân mà !

Cô gáì trẻ ngượng ngùng cúi đầu.

Thầy hỏi tiếp:

– Trên đùi cô có xâm một chữ K, có phải vậy không?

Cô gái lại giật mình, cúi đầu e thẹn:

– Thưa vâng, ở đùi bên phải ạ. Anh ấy tên Khang, nhưng tụi con chia tay rồi.
– Thì tôi đã phán mà : hồng nhan đa truân

 
Thầy lại lên tiếng, giọng chắc như dao phay chém thớt gỗ mít:

– Bụng cô có một vết sẹo. Nhỏ thôi, dài khoảng 1 phân, đúng không?

Cô gái:

– Vâng, hai năm trước, con phải mổ ruột thừa. !

Rồi cô cầt tiếng hỏi thầy, giọng thán phục:

– Thầy quả là bậc Thánh. Thưa thầy, con xin hỏi trong mấy khoa Tử vi, Tử bình, Chiêm Tinh, Hà Lạc…, vậy chớ thầy áp dụng môn nào mà lại nhìn được mọi sự rõ ràng như vậy?
Nhìn thẳng vào cô gái, thầy cười khằng khặc, thú nhận:

– Đã áp dụng môn nào đâu! Mới chỉ liếc sơ qua là biết liền

Rồi chỉ tay vào y phục cô gái, thầy tiếp:

Áo hở rốn, váy hở đùi, cũn cỡn như vậy thì cả đến cái gì gì cũng còn thấy đuợc nữa chứ lị…!

Cần chi phải tử vi với lại tử bình

Cách Cục Đặc Thù


Trong Tử Vi Đẩu Số, có một số cách cục khó có thể quy nạp vào cát cách, hung cách hay ác cách, nhưng bản thân chúng cũng mang những quy luật, mô thức nhất định nên được vào loại ” Cách cục đặc thù”. Sau đây, chúng tôi sẽ trình bày lần lượt về những cách cục đặc thù này.

Các cách cục gặp Lộc cát tường, gặp Kỵ hung tai.

Linh Xương Đà Vũ: Bốn sao Linh Tinh, Văn Xương, Đà La, Vũ Khúc tổ hợp thành cách cục. Nếu không có Đà La, có Lưu niên Đà La cũng được. Nếu tổ hợp được cách cụ, lại gặp Lộc sẽ được cát lợi, gặp kỵ lai thành bất lợi. (Cách này thiên cơ có đọc của bác VDTT viết rất hay, các bạn nên tham khảo).

Thiên Cơ, Thiên Lương Kình Dương hội: Tổ hợp các sao Thiên Cơ, Thiên Lương, Dương Nhận (hoặc Đà La).

Hình tù giáp Ấn: Tổ hợp của ba sao Liêm Trinh (hóa khí là Tù), Thiên Tướng (hóa khí là Ấn), Kình dương (hóa khí là hình), nếu thiếu Kình Dương có thể thay bằng Đà la.

Lộ thượng mai thi (chôn xác trên đường): Tổ hợp ba sao Liêm Trinh, Thất Sát, Dương Nhận (Đà La).

Mã đầu đới tiễn (đầu ngựa mang tên): Kình dương trấn mệnh tại cung Ngọ, hai cung bên cạnh có hai sao Lộc kìm kẹp.

Cự Hỏa Dương: Tổ hợp của ba sao Cự Môn, Hỏa Tinh, Kình DƯơng, cũng là một dạng của cách cục giáp sát thành cách (kèm sát tinh thành cách cục).

Cự Linh Dương: Tổ hợp của ba sao Cự Môn, Linh Tinh, Kình dương cũng là một dạng của cách cục giáp sát.

Sát cách: Các cách cục được tổ hợp bởi bôn nhóm sát tinh Hỏa Dương, Hỏa Đà, Linh Dương, Linh Đà.

Giáp sát thành cách: Bất kỳ chủ tinh nào kìm kẹp một trong bốn tổ hợp sát tinh trên. Ví dụ như Tử Vi nằm cùng cung hoặc hội chiếu Hỏa, Dương, Tử Vi sẽ trở thành Giáp Sát thành cách.

Tổ hợp sát cách bị Không Kiếp xung phá.

Hỏa Dương Không: Tổ hợp Hỏa Tinh, Kình Dương, Thiên Không được hình thành khi cách cục Hỏa Dương bị Thiên Không xung phá.

Hỏa Đà Không: Tổ hợp Hỏa Tinh, Đà La, Thiên Không được hình thành khi cahcs cục Hỏa Đà bị Thiên Không xung phá.

Hỏa Dương Kiếp: Tổ hợp Hỏa Tinh, Kình Dương, Địa Kiếp được hình thành khi Hỏa Dương bị Địa Kiếp xung phá.

Hỏa Đà Kiếp: Tổ hợp Hỏa Tinh, Đà La, Địa kiếp được hình thành khi Hỏa Đà bị Địa Kiếp xung phá.

Linh Dương Không: Tổ hợp Linh Tinh, Kình Dương, Thiên Không được hình thành khi Linh Dương bị Thiên Không xung phá.

Linh Đà Không: Tổ hợp Linh Tinh, Kình Dương, Thiên Không được hình thành khi Linh Đà bị Thiên Không xung phá.

Linh Dương Kiếp: Tổ hợp Linh Tinh, Kình Dương, Địa Kiếp được hình thành khi Linh Dương bị Địa Kiếp xung phá.

Linh Đà Kiếp: Tổ hợp Linh Tinh, Đà La, Địa Kiếp được hình thành khi Linh Đà bị Địa Kiếp xung phá.

Trong tám tổ hợp cách cục trên đây, nếu các sao đồng cung được hai lộc phò trợ (đặc biệt khi hình thành cách cục Song Lộc phụ Lộc) là cát lợi nhất, có thể phát huy được đồng thời cả thế phát triển của ” Hỏa Không sẽ phát” và ” Kim không sẽ vang” nhưng nếu bị Kỵ tinh kìm kẹp, sẽ gặp phải tai họa bất thình lình khiến cho trở tay không kịp. Tám tổ hợp này đều là những cách cụ bị Không, Kiếp xung phá, khi được sao Lộc hội chiếu sẽ bộc lộ được ít nhiều điểm tốt lành. Nếu theo các nghành nghiên cứu, thiết kế, khai thác, sẽ có những phát triển nhất định. Nếu bị kỵ tinh xâm nhập, sẽ trở thành trạng thái ” Hung không hoàn toàn”, tuy tổn thương đến nguyên khí, nhưng lại có được cơ hội bắt đầu mới, bởi khi sao Lộc đại hạn hoặc lưu niên xuất hiện sẽ khiến cho ” Đã phát lại vang”. Nhưng do tổ hợp này mang tính bất quy tắc, nên rất khó nắm bắt.

Bảng tra cách cục đặc thù:

Các cách cục gặp Lộc cát tường, gặp Kỵ hung hại:

Linh Xương Đà Vũ: Tổ hợp bốn sao Linh Tinh, Văn Xương, Đà La, Vũ Khúc nếu không có Đà La, có thể thay bằng Đà la lưu niên.

Thiên Cơ, Thiên Lương, Kình dương hội: Tổ hợp các sao Thiên Cơ, Thiên Lương, Kình Dương ( hoặc Đà La).

Hình tù giáp Ấn: Tổ hợp của ba sao Liêm Trinh ( hóa khí là tù), Thiên Tướng (hóa khí là Ấn), Kình dương (hóa khí là hình), nếu thiếu kình dương có thể thay bằng Đà La.

Lộ thượng mai thi: Tổ hợp ba sao Liêm Trinh, Thất Sát, Kình Dương (Đà la).

Mã đầu đới tiễn: Kình dương trấn mệnh tại cung Ngọ, tại hai cung bên cạnh có hai sao Lộc kìm kẹp.

Cự Hỏa Dương: Cự Môn, Hỏa Tinh, Kình Dương cũng là một dạng của cách cục giáp sát thành cách.

Cự Linh Dương: Cự Môn, Linh Tinh, Kình dương cũng là một dạng của cách cục giáp sát thành cách.

Sát Cách: Cách cục được tổ hợp bởi bốn nhóm sát tinh Hỏa Dương, Hỏa Đà, Linh Dương, Linh Đà.

Giáp sát thành cách: Chủ tinh kìm kẹp một trong bốn tổ hợp sát tinh trên.

Không Kiếp xung phá sát tinh: Các cách cục Hỏa Dương, Hỏa Đà, Linh Dương, Linh Đà bị Không Kiếp xung phá, nếu được hai sao Lộc phò trợ sẽ tốt, nếu gặp sao Kỵ quấy nhiễu sẽ thiếu ổn định.

Các tổ hợp Ác cách


Căn cứ vào lý luận Tử Vi Đẩu số, nếu lá số hình thình nên ác cách, thì mọi việc đều bất . Tổ hợp ác cách chủ yếu được hình thành khi sao Hóa Kỵ bị kìm kẹp khắc chế. Hung cách nếu bị sao Kỵ tác động cũng có thể tạo thành ác cách.

Ác cách chủ yếu được tổ thành khi sao Hóa Kỵ, bị kìm kẹp khắc chế, hoặc khi sao Kỵ kìm kẹp các sát tinh khác hình thành cách cục. Hung cách nếu bị Kỵ tinh tác động cũng có thể tạo thành ác cách. Ví dụ:

Dương Đà giáp Kỵ: Tam đại Kỵ tinh nằm tại những cung vị bị Kình Dương, Đà La kìm kẹp.

Hỏa Linh giáp Kỵ: Tam đại kỵ tinh nằm tại những cung vị bị Hỏa Tinh, Linh tinh kìm kẹp.

Không Kiếp giáp Kỵ: Tam đại Kỵ tinh nằm tại những cung vị bị Không, Kiếp kìm kẹp.

Song Kỵ giáp Kỵ: Tam đại Kỵ Tinh kìm kẹp lẫn nhau, tại cung vị bị kìm kẹp sẽ hình thành cách cục Song Kỵ giáp Kỵ.

Tam phương Kỵ ,Sát: Tại cung vị cần suy đoán, cung vị tam phương đều có sát tinh trấn thủ.

Hóa Kỵ giáp Sát: Sao Kỵ kìm kẹp Hỏa Dương, Hỏa Đà, Dương Linh, Linh Đà tạo thành cách cục.

Lá số gặp Hung cách, ác cách phải làm thé nào?

Lá số Tử Vi Đẩu số muôn hình vạn trạng, thiên biến vạn hóa, chắc chắn sẽ có lúc tổ hợp nên hung cách, ác cách, thậm chí có thể cùng một lá số xuất hiện nhiều loại hung cách khác nhau. Nếu không may gặp phải những cách cục này, phải chăng cuộc đời đã không còn hy vọng? Sự thực không phải là như vậy! Nếu biết cách bổ trợ, ứng cứu cho những thiếu khuyết này, vẫn có thể tìm cát tránh hung.

Khi xem xét lá số Tủ Vi, cổ nhân quan niệm ” Biết mệnh trời mà không lo lắng” đó chính là một thái độ đúng đắn trong nghiên cứu mệnh lý. Khi gặp phải hung cách, ác cách, càng phải quán triệt tâm thái này, và biết áp dụng những biện pháp tích cực để bổ cứu cho lá số.

1. Dùng vận bổ cứu cho mệnh: Nếu cách cục tổng thể của lá số là không tốt, nhưng Đại tiểu hạn và lưu niên lại có cát tinh trấn thủ có thể lợi dụng vận trình để thêm phần cát lợi.

2. Dùng thuốc đúng bệnh: Căn cứ vào tình trạng, mức độ hung hại cụ thể của lá số để vận dụng những đối sách hợp lý, như tại cung tài bạch có sao Không, nên tránh theo nghiệp kinh doanh, đầu cơ.

3. Khéo vận dụng: Người xưa căn cứ vào những điều kiện và hoàn cảnh đương thời để suy đoán mệnh lý, cùng với sự phát triển của xã hội có nhiểu những nhân tố mà xưa kia được coi là không cát lợi, đến nay đã có được điều kiện để phát huy tác dụng tích cực, như người xưa quan niệm sao Xương, Khúc không hợp với mệnh nữ nhưng trong xã hội ngày nay, hai sao này mang lại cơ hội cho mệnh nữ phát triển về tài năng nghệ thuật.

Các tổ hợp hung cách


Các tổ hợp sao trong hung cách (cách cục xấu) phần lớn là do sát tinh bị kìm kẹp hoặc sát tinh xung phá lẫn nhau tạo nên:

Dương Đà giáp sát:
Sát tinh bị kìm kẹp bởi Kình Dương, Đà La nằm tại hai cung bên cạnh. Như Dương Đà kèm Dương (Dương, Đà của lưu niên kìm kẹp Dương Nhận của năm sinh, hoặc Dương Đà của năm sinh kìm kẹp Dương Nhận của Lưu Niên, đều thuộc cách cục này). Dương Đà kèm Đà, Dương Đà kèm Hỏa Tinh, Dương Đà kèm Linh Tinh, Dương Đà kèm Thiên Không, Dương Đà kèm địa kiếp.

Hỏa Linh giáp sát: Sát tinh bị kìm kẹp bởi Hỏa Tinh, Linh Tinh nằm tại hai cung bên cạnh. Như Hỏa Linh kèm Thiên Không, Hỏa Linh kèm Địa Kiếp, Hỏa Linh kèm Dương Nhận, Hỏa Linh kèm Đà La.

Không Kiếp giáp sát: Sát tinh bị kìm kẹp bởi hai sao Không, Kiếp nằm ở hai cung bên cạnh, ví dụ như Không, Kiếp kèm Dương Nhận, Không Kiếp kèm Đà La, Không Kiếp kèm Hỏa Tinh, Không Kiếp kèm Linh Tinh.

Song Kỵ giáp sát (Hai sao Kỵ kèm sát tinh): Ba đại kỵ tinh (Năm sinh, đại hạn, lưu niện được gọi là tam đại (ba đời), được sử dụng khi suy đoán về những sự kiện trọng đại trong bản mệnh, đại hạn hoặc lưu niên. Nếu suy đoán về lưu thời (giờ), thì Lưu Nguyệt, Lưu Nhật, Lưu Thời được gọi là tam đại) kìm kẹp hai bên cung vị sát tinh, như Song Kỵ kèm Thiên Không, Song kỵ kèm Địa Kiếp, Song kỵ kèm Hỏa Tinh, Song Kỵ kèm Linh Tinh, Song Kỵ kèm Dương Nhận, Song Kỵ kèm Đà La.

Tam Phương giai sát ( ba phương đều là sát tinh): Tại cung mệnh, cung tài bạch, cung quan lộc, cung thiên di đều có sát tinh. Hoặc khi muốn xem cung vị nào, mà cung tam phương tứ chính của nó đều có sát tinh tọa thủ, thì cung vị đó sẽ gặp nguy hiểm. Nếu như hành vận gặp sao Kỵ hoặc sát tinh, sẽ liên tiếp gặp phải nhiều hung hiểm, nguy hại.

Thất Sát Dương Đà điệt tịnh (Thất Sát Dương Đà trùng điệp): Thất sát và Dương Đà nằm cùng cung hoặc hội chiếu nhau, lưu niên lại gặp Dương Đà quấy nhiễu vào thời điểm gặp nhau ắt có điều hung hại.

Bảng tra hung cách:
Dương Đà giáp sát: Kình dương, Đà La kìm kẹp ở hai cung vị sát .
Ví dụ cụ thể: Dương Đà giáp Dương, Dương Đà của lưu niên kìm kẹp Dương Nhận của năm sinh, hoặc Dương Đà của năm sinh kìm kẹp Dương Nhận của lưu niên.

Hỏa Tinh giáp sát: Hỏa Tinh, Linh tinh kìm kẹp ở hai cung vị sát tinh.
Ví dụ cụ thể: Hỏa Linh kèm Thiên Không, Hỏa Linh kèm Địa Kiếp, Hỏa Linh kèm Dương Nhận, Hỏa Linh kèm Đà La.

Không kiếp giáp sát: Không kiếp kìm kẹp ở hai bên cung vị sát tinh.
Ví dụ cụ thể: Không Kiếp kèm Dương Nhận, Không Kiếp kèm Đà La, Không Kiếp kèm Hỏa Tinh, Không Kiếp kèm Linh Tinh.

Song Kỵ giáp sát: Tam đại kỵ tinh kìm kẹp hai bên cung vị sát tinh.
Ví dụ cụ thể: Song Kỵ kèm Thiên không, Song Kỵ kèm Địa Kiếp, Song Kỵ kèm Hỏa Tinh, Song Kỵ kèm Linh Tinh, Song Kỵ kèm Dương Nhận, Song Kỵ kèm Đà La.

Tam Phương giai sát: Tại các cung mệnh, tài bạch, quan lộc, thiên di đều có sát tinh.
Ví dụ cụ thể: Cung mệnh có Kình Dương hoặc Đà La, cung Tài, Quan, Thiên Di lần lượt xuất hiện Địa Kiếp, Địa Không, Hỏa Tinh.

Thất Sát Dương Đà điệt tịnh: Thất Sát và Dương, Đà nằm cùng cung hoặc hội chiếu lẫn nhau, lưu niên lại gặp Dương, Đà quấy nhiễu.
Ví dụ cụ thể: Thất Sát và Dương Đà nằm tại hai cung mệnh, tài, Dương Đà của lưu niên nằm tại cung Thiên di và Quan Lộc.

Những tạp cách (cách cục tạp) của Tử Vi Đẩu số


1. Phong vân tế hội (Gặp hội phong vân): Hai cung thân, mệnh suy yếu, bất lực nhưng đại hạn, tiểu hạn có rất nhiều cát tinh, Lộc Mã giao trì, cung tam phương có cát tinh hội chiếu, vẫn có được cơ hội phát triển cực tốt, nhưng khi hạn qua đi, lại trở về nghèo khó.
2. Cẩm thượng thêm hoa (Gấm lại thêm hoa): Hạn phá gặp hung tinh, như hạn Tý không tốt nhưng hạn Sửu tốt, khi hết hạn Tý sang hạn Sửu, được cát tinh tại cung tam phương củng chiếu, gặp cả Lộc Quyền cũng sẽ phát tài nhanh chóng.
3. Lộc suy Mã khốn: Lộc Mã là Tài quan, nếu Lộc suy nhược, tức sao Lộc nằm tại cung Không vong, Kiếp, Hao, Mã bị khốn, tức Lộc Mã rơi vào cung hãm, gặp sát tinh hai hạn và Thai Tuế gặp phải ắt sẽ phá gia bại sản, tiền của tiêu tán.
4. Ý cẩm hoàn hương ( Áo gấm về quê): Vũ Khúc, Tham Lang, Thiên Đồng trấn tại cung mộ, thời trẻ nghèo khổ, nếu vận hạn gặp cát địa, từ năm 30 tuổi về sau sẽ phát đạt.
5. Bộ số vô y (Không chốn nương thân): Hạn trước tiếp hạn sau, hành vận đều rơi vào cung hãm, gặp phải cách cục này chủ về lênh đênh cô độc.
6. Thủy thượng giá ốc (Xây nhà trên nước): Một hạn tốt tiếp một hạn xấu, tựa như cơn sóng lúc lên lúc xuống. Nên cuộc đời cũng lúc tốt lúc xấu.
7. Cát hung tương bạn (cát hung lẫn lộn): Mệnh gặp cả cát tinh và hung tinh, nếu phối hợp thích đáng để giữ tốt bỏ xấu, sẽ được hưởng phú quý. Nếu kết hợp không tốt, khiến cát tinh bị ức chế, hung tinh được trợ giúp, sẽ là mệnh bần hàn cô độc, cần phải an phận thủ thường, biết chấp nhận hoàn cảnh.
8. Khô mộc phùng xuân (Cây khô gặp xuân): Người xưa có câu ” Cây khô gặp xuân còn nảy lộc, Làm người sẽ có lúc gặp thời”. Tức mệnh tuy suy nhược, nhưng vận hạn gặp cát địa, vẫn được giàu có, như cây khô gặp mùa xuân, lại đâm chồi nảy lộc.

Những trường hợp phá cách:
1. Cung mệnh tuy nhiều cát tinh nhưng lại xuất hiện Không, Kiếp cùng các sát tinh khác sẽ không được tốt đẹp trọn vẹn.
2. Cung mệnh tuy có quý tinh nhưng cung Lộc gặp Không.
3. Cung mệnh tuy có Văn tinh nhưng cung đối diện có Kình, Đà, Không, Kiếp trực xung.
4. Cung mệnh không có cát tinh, tại cung tật ách có hai sao Thái Dương, Thái Âm kèm sát tinh chủ về mù mắt gù lưng, chắc chắn sẽ bị tàn tật hoặc thương tật.
5. Mệnh đóng tại Tỵ, Hợi, Thiên Cơ trấn mệnh, nếu có cát tinh hình thành cách cục chủ cát lợi, nhưng tính tình gian trá. Nếu không hợp thành cách cục, là kẻ tiểu nhân vô sỉ.
6. Văn Khúc nằm một mình tại cung Tuất, cung Dần có hai sao Thái Dương, Cự Môn hội chiếu chủ về dễ ly dị vợ, chồng.

Cách cục Khoa minh Lộc ám (Hay Minh châu ám Lộc)


Sao Hóa Lộc trấn mệnh, sao Lộc Tồn đóng tại cung ám hợp của cung mệnh. Cách cục này gồm những trường hợp cụ thể sau:
Người sinh năm Giáp, Vũ Khúc tại Hợi, Hóa Khoa trấn mệnh, tại cung Dần có Lộc Tồn ám hợp.
Người sinh năm Ất, Tử Vi tại Tuất, Hóa Khoa trấn mệnh, tại cung Mão có Lộc Tồn ám hợp (cũng là cách Quyền Lộc giáp mệnh).
Người sinh năm Bính, Văn Xương tại Thân, Hóa Khoa trấn mệnh, tại cung Tỵ có Lộc Tồn ám hợp
Người sinh năm Đinh, Thiên Cơ tại Mùi, Hóa Khoa trấn mệnh, tại cung Ngọ có Lộc tồn ám hợp.
Người sinh năm Mậu, Hữu Bật tại Thân, Hóa Khoa trấn mệnh, Lộc Tồn ở Tỵ ám hợp.
Người sinh năm Kỷ, Thiên Lương tại Mùi, Hóa Khoa trấn mệnh. Tại cung Ngọ có Lộc Tồn ám hợp.
Người sinh năm Canh, Thiên Đồng tại Tỵ, Hóa Khoa trấn mệnh. Tại cung Thân có Lộc Tồn ám hợp.
Người sinh năm Tân, Văn Xương tại Thìn, Hóa Khoa trấn mệnh. Tên cung Dậu có Lộc Tồn ám hợp.
Người sinh năm Nhâm, Tả Phụ tại Dần, Hóa Khoa trấn mệnh, tại cung Hợi có Lộc Tồn ám hợp.
Người sinh năm Quý, Thái Dương tại Sửu, Hóa Khoa trấn mệnh, tại cung Tý có Lộc Tồn ám hợp,
Kinh văn có câu: ” Khoa minh Lộc ám, làm đến Tam Đài” (Tức quyền cao chức trọng).

Song Lộc phụ Lộc (Hai Lộc phò Lộc): Tại cung vị được phò trợ ở giữa là cát lợi nhất (tại cung vị được phò trợ, nếu các sao trong cung tổ hợp thành cách cục lại hình thành nên cách cục ” Song Lộc phụ Lộc hựu phụ”, còn tốt hơn cả cách cục Tam kỳ gia hội), chủ về ngồi mát ăn bát vàng, sẽ có thành tựu phi phàm.

Cách cục Song Lộc phụ: Khi các sao tập hợp thành cách cục (nếu ở trong một cung là tốt nhất) được hai sao Lộc phò trợ, có thể phát huy được uy lực cực lớn ( như Hỏa Tham, Linh Tham, Hỏa Vũ, Linh Vũ, Hỏa Âm, Linh Âm, Hỏa Dương, Linh Dương, Hỏa Đà, Linh Đà, Lộ thượng mai thi (chôn xác trên đường), Hình tù giáp Ấn, Mã đầu đới tiễn, Thiên Cơ, Thiên Lương Kình dương hội, Hỏa Không, Linh Không, Hỏa Kiếp, Linh Kiếp, Âm Dương, Âm Đà, Linh Xương Đà Vũ, Cự Hỏa Dương, Cự Linh Dương, Cự Hỏa Đà, Xương Tham, Khúc Tham, Xương Liêm, Khúc Liêm).
Song Lộc giao trì: Ba tầng Lộc tinh hoặc Lộc Tồn, trong đó từ hai ngôi trở lên tại cung tam hợp hội chiếu sẽ hình thành cách cục này. Nếu mệnh đóng tại cung Sửu, Lộc Tồn tại Tỵ, Hóa Lộc tại Dậu hoặc Sửu, sẽ hình thành nên cách cục này. Nếu Lộc Tồn tại Ngọ, sao Lộc đại hạn hoặc lưu niên tại Dần hoặc Tuất sẽ cấu thành cách cục Song Lộc giao lưu tại cung tam phương của cung Tuất, tại cung vị của sao Lộc hội chiếu sẽ có thành tựu.

Nhận định về các cách cục trên:

Nhật nguyệt chiếu bích: Phá Quân trấn mệnh tại Thìn (Tuất), Thái Âm trấn điền trạch tại Mùi (Sửu)0, Tử Vi, Phá Quân trấn mệnh tại Mùi (Sửu), Thái Âm, Thái Dương tại Thìn Tuất chiếu cung điền trạch. Ưu điểm có nhiều bất động sản, kế thừa được gia nghiệp, tổ tiên, là mệnh phú hào. Khuyết điểm cung Thìn không nên có Hỏa Tinh, Linh Tinh, cung Tuất không nên có Văn Xương, Văn Khúc, đề phòng gặp đào hoa.

Tài Lộc giáp Mã: Sao Mệnh Mã trấn tại Tỵ Hợi, cung bên cạnh có Vũ Khúc, Lộc Tồn (hoặc Hóa Lộc), kèm mệnh. Ưu điểm tiền của dồi dào, càng động càng phát tài. Khuyết điểm nếu Lộc Tồn kèm bên cung mệnh, sẽ có Dương, Đà trấn mệnh, chủ gặp tiểu nhân hoặc hình thương (Dương là hiển hiện, Đà là ngầm ẩn), nếu Thái Dương, Kình Dương, Đà La cùng trấn mệnh thường có tật ở mắt.

Minh Lộc ám Lộc: Cung Mệnh có Hóa Lộc (hoặc Lộc Tồn), tại cung ám hợp có Lộc Tồn (hoặc Hóa Lộc), Ưu điểm Tài lộc song toàn, khuyết điểm kỵ không vong.
Khoa minh Lộc ám: Hóa Khoa trấn mệnh, cung ám hợp của cung mệnh có Lộc Tồn. Ưu điểm Khoa Lộc song toàn, khuyết điểm kỵ không vong.

%d bloggers like this: