TỬ VI – THAM LANG tọa Mão Dậu


[Biểu tượng của sự phong lưu]

Tử Tham Mão Dậu có 2 tính chất : vật dục / tình dục.
cổ nhân gọi là “đào hoa phạm chủ” : nghĩa là người dâm loạn .
Tử Tham không nên gặp thêm các sao đào hoa : người dễ bị người khác phái hấp dẫn mà không thể tự kềm chế,
nếu lại gặp Sát diệu : chủ vì đam mê tửu sắc mà mang họa ,
thậm chí nếu không gặp Sát diệu : sự nghiệp cũng bị ảnh hưởng.
Tử vi hóa Quyền (tuổi Nhâm) được “bách quan triều củng” giống như [Thiên tử phong lưu lúc thái bình thịnh thế] : phú quý nhưng đa tình;
Tử vi hóa Khoa (tuổi Ất) : người này có thể nỗi danh, việc học thành công, tuy nhiên vẫn xem nặng tình dục và vật dục.
Như Tham hóa Lộc (tuổi Mậu) : chủ giao tế qua lại nhiều, nghiêng về trọng vật dục, tuy nhiên người này tài vận hanh thông.
Tham hóa Quyền (tuổi Kỉ) : cũng trọng vật dục, tuy phải cạnh tranh mới thành.
Tham hóa Kị (tuổi Quí) : tính đam mê tửu sắc giảm, nhưng cũng khó phát triển tài nghệ, tuy có vật dục cũng khó thực hiện. .
Tử Tham thích Phụ Bật đồng cung mà không thích Xương Khúc.
có Xương Khúc đồng cung , người có xu hướng theo đuổi người khác phái, quan trọng việc trang sức bề ngoài, như vậy việc làm nhiều giả dối (đa hư thiểu thực).
Tử Tham kiến Sát : chỉ nên kinh thương,có nhiều Sát cũng bị thị phi phân tranh, thêm Không diệu cùng Hoa cái, nên theo [tôn giáo] mưu sinh.
Nữ mệnh Tử Tham, có đào hoa cùng Sát diệu : dễ lạc vào phong trần, đặc biệt không nên có Kình với các sao đào hoa tập hợp, tính sa đọa càng lớn. Đồng thời có khuynh hướng theo đuổi vật dục mà đọa lạc.
nếu dậu cung tọa mệnh vô chính diệu, mượn Tử Tham ở mão cung, hoặc cung mão tọa mệnh mượn Tử Tham dậu cung, do mượn mà có quan hệ [Phủ Tướng triều viên] : tính chất không tương đồng, điểm này nên chú ý.
Tử Tham đồng cung ở mão dậu / đối cung vô chính diệu / tam hợp cung hội Liêm Sát, cùng Vũ Phá.
Tử Tham : thuộc loại [thuần dục vọng]. Không chỉ vì Tử Tham bản thân đầy đủ tính dục, mà Vũ Phá cũng mang sắc thái vật dục mạnh mẽ, Chỉ có Liêm Sát trong một sốt rường hợp, có thể nghiêng về tình cảm .
suy đoán bản chất tổ tinh hệ này, phải phân biệt là vật dục, hay là tình dục. xưa nay cổ nhân đều nói “đào hoa phạm chủ vi chí dâm” : tức là nhấn mạnh đặc tính tình dục .
Tử Tham cùng Hình hoặc Không diệu đồng cung : có thể tự chủ, tuy nhiên chổ tự chế này thường thường gần với tình cảm, mà tính chất vật dục mạnh mẽ vẫn không thay đổi.
tổ tinh diệu này cùng Tử vi tại 2 cung tính bản chất lại có sự khác biệt.
Tử vi độc tọa, với Tham lang đối xung, dụng Thiên tướng thay thế Phá quân, dùng Thiên phủ thay thế Thất sát : vì vậy tính chất liền thấy nhu hòa, đồng thời vẻ đặc sắc của Tử-vi cũng thể hiện đầy đủ.
Ví dụ : Tử vi độc tọa không thích tự phô trương, vì vậy liền độc hành độc đoán; nhưng Tử Tham không như thế, muốn lãnh đạo, vẫn có những thủ đọan khác nhau.
Lấy tình cảm mà nói, Người Tử vi độc tọa, lòng tự tôn rất lớn, Vì vậy trừ phi người khác phái có ngụ ý, còn không sẽ không mù quáng theo đuổi;
nếu Tử Tham thì chủ động, thậm chí không sợ cạnh tranh.
Tử vi độc tọa cùng Tham lang xung, với Tử Tham đồng cung khác nhau rất lớn, trường hợp thứ nhất : lãnh đạo lực cùng quyết đoán lực lớn hơn, trường hợp thứ hai chủ động tính mạnh, Cũng có thể nói,người Tử Tham nhân sanh quan nói chung tích cực hơn, có thêm Sát diệu, thường thường muốn đạt mục tiêu bất chấp thủ đoạn.
Tử Tham thích “bách quan triều củng” như Tử vi , tuy nhiên vì không cấu thành cách cục “Phủ Tướng triều viên”: nên khí phách nhỏ. như có Phụ Tá, tạp diệu, cát tinh triều củng ắt tự có khí lượng, chẳng phải hạng tầm thường.
Tử Tham :
– có Hỏa Linh đồng cung, cũng thành [Tham Hỏa][Linh Tham] cách.chỉ không bằng Vũ Tham cùng Hỏa Linh đồng cung : thực tế hành động cùng quyết đoán, không sắc nét mẫn nhuệ bằng Vũ Khúc. có thể nói là do ở quyết sách mà được tài bất ngờ.
-không có cát tinh củng chiếu, cũng có ý vị Cô quân, nhưng không cô lập giống như Tử vi [tại dã cô quân]
– với các sao đào hoa đồng hội , đặc biệt là Thiên diêu đồng cung,là tổ hiệp tinh diệu tình dục rất nặng. (Diêu và Đào hoa nặng về Nhục dục)
– có Xương Khúc : làm mạnh thêm sắc thái tình dục này. Như đồng thời hội hiệp thêm sát diệu, (tắc kỳ nhân tất phong lưu tự thưởng ). người tự được phong lưu.
Tham hóa Lộc : tăng gia tính vật dục;
Vũ hóa lộc hoặc Phá hóa Lộc hội hiệp : tính vật dục cũng cường, như tăng thêm chủ động.
Liêm hóa Lộc : [nặng tình cảm], trọng tình nam nữ, trọng tình cảm bạn bè.
Liêm hóa Kị : sự nghiệp có tính chất nhập nhằng. hơn nữa lấy giao tế ứng thù làm chủ : mang sắc thái tính vật dục.

Những trường hợp Tử Tham là tình dục tính:

– Tử Tham đồng cung Thiên diêu.
– Tử Tham có Xương Khúc.
– Tử Tham đồng hoặc hội các sao đào hoa.

Những trường hợp Tử Tham là vật dục tính:
– Tham hóa Lộc Quyền Kị.
– Vũ hóa lộc
– Phá hóa Lộc
– Liêm hóa Kị

Tử Tham vận hạn lưu niên qua 12 cung:

Cung Thìn Tuất : Cự môn.
Tử Tham chuyển đến : Dễ gây ra biến động tình cảm .
Tử Tham tình dục đến : thường làm cho xuất hiện tình cảm khốn nạo[1]
đặc biệt lúc Cự hóa kị, hoặc lúc đối cung Đồng hóa Kị : tình cảnh khốn khổ càng tệ hại.
như Cự hóa Lộc,
Tử Tham vật dục trọng đến : được một vận hội tốt . cũng cần phải có lưu niên Thái dương hóa Lộc xung khởi mới bắt đầu .

Cung Tị Hợi : Thiên tướng,
như đối cung Phá hóa Lộc, ắt là được vận hội hoặc lưu niên tốt, nhưng không nên độc lập sáng nghiệp, Chỉ nên giúp đỡ những người khác. Nếu ở địa vị lãnh đạo, không phải là lúc thích hợp thể hiện tài năng, nếu không tất nhiều vất vả .
Thiên tướng [giáp Tài Ấm],
Tử Tham vật dục trọng đến : vận thế tuy tốt, nhưng chỉ cần không nên phát huy quá sức mình cái mong ước lãnh đạo. nếu có sát diệu đồng hội : ắt do đây mà sanh bế tắc lớn.
Thiên tướng [giáp Hình Kị],
Tử Tham vật dục trọng đến : dễ sinh áp lực,
Tử Tham tình dục trọng đến : ắt thường thường vì sắc mà gặp họa, hoặc bị thống khổ do luyến ái.

Cung Tí Ngọ : Thiên lương:
Tử Tham đến : nói chung là bất lợi,
Có Sát Kị Hình : thậm chí vì điều này mà gây nên kiện cáo, mắc hình phạt. ngay cả khi gặp cát hóa, cát diệu, vận thế cũng không hài lòng, người nhàn (thong thả) có cảm giác thành công.
khi Tử Tham nguyên cục hội Liêm hóa Kị (tức tuổi Bính có Đồng hóa Lộc tại Thìn Tuất và Cơ hóa Quyền tại Dần Thân), tại cung Thiên lương này hội các sao tài lộc : nên buôn bán để cầu tài.như thấy Sát Hình Hao : lại chủ phá tài khuynh bại, phân tranh từ tụng.

Cung Sửu Mùi : Liêm Sát
có Lộc Quyền Khoa hội hiệp ,
hoặc nguyên cục là Hỏa Tham, Linh Tham ,chỉ cần sát diệu không nhiều, lại không bị lưu sát xung hội : ắt là đột nhiên vận thế trổi dậy,
Mặc dù cũng lợi cho tài bạch sự nghiệp, nhưng cũng có thể bị tình dục cản trở mà vận thế giảm sút.
Tối kị đại vận hoặc lưu niên Liêm Sát có Liêm hóa Kị : thường khuynh bại không có dấu hiệu báo trước.
Vũ hóa Kị hội : nên kềm chế dục vọng, đề phòng làm bậy sanh phiền.
Tử Tham vật dục trọng đến : Vũ hóa Kị, năm xung hội Liêm hóa Kị, như Sát Kị Hình niên tinh lại tái xung hội : nên lui về hậu trường, Và chú ý đến sức khỏe.
Tử Tham Tình dục trọng đến : dễ vì sắc mà mang họa.

Cung Tuất Thìn :Thiên đồng,
Tử Tham Tình dục trọng đến : là một năm tình cảm biến động xấu (khốn nạo).
Tử Tham vật dục trọng đến : được hưởng thụ, mà hưởng thụ cũng mang sắc thái đào hoa
Lộc Quyền Khoa hội, và thêm cát diệu : bắt đầu cho mùa thu hoạch .
như thấy Kị đồng cung, lại có sát diệu hội : là vận thất bại. tình dục Trọng thì bại ở tình dục, vật dục trọng thì bại ở vật dục.

Cung Tị Hợi : Vũ Phá,
Tử Tham vật dục trọng đến : có lợi .
đặc biệt trường hợp Hóa Lộc, hóa Quyền.
Tử Tham Tình dục trọng thì, tuy gặp cát hóa cũng sanh nhiều tình cảm bế tắc,Sát Hao tụ tập: là đào hoa kiếp. tuy nhiên ngoại trừ tình cảm khốn nạo, sựng hiệp cùng tài vận đều tốt .
Như Vũ hóa Kị,
Tử Tham vật dục trọng đến : là năm sự nghiệp cùng tài bạch bị thất bại ,Phải là cần ổn định, tùy ngộ nhi an (phù hợp với bất kỳ nơi nào ) mới có thể tránh được .
Tử Tham Tình dục trọng đến : nên chế ngự cảm tình. có khả năng vì dục vọng mà bị tỏa chiết, dẫn đầu những phân tranh trọng đại. nếu hội Tham hóa kị : chắc chắn sẽ xuất hiện tranh đoạt mà bại liệt.

Cung Tí Ngọ: Thái dương,
Tử Tham đến : là ác vận. Đặc biệt dễ vì tình dục đưa đến thị phi khốn khổ.
có Kị Sát càng nặng;
Thái dương lạc hãm : cực xấu .
Thái dương hóa cát, và hội cát diệu : được bình ổn.

Cung Sửu Mùi : Thiên phủ.
Tử Tham đến : đại khái có lợi. chủ vận trình nhiều phát triển.
có Sát Kị Hình cùng hội : kém.
tại Mùi cung, được vượng địa của Thái dương Thái âm giáp, như tại can Tân, Thái dương hóa Quyền giáp mệnh, ắt Cự hóa Lộc giáp sự nghiệp cung của Thiên tướng (thành Tài Ấm giáp), không luận tính chất của Tử Tham đều là vận hạn thu họach tốt.

Cung Dần Thân : Cơ Âm,
Tử Tham khí chất bất lợi, thấy cát diệu, cát hóa còn được, nếu không ắt đa tai bệnh, hoặc nhiều tinh thần khốn nạo .

Tử Tham thủ mệnh
mừng kiến Hỏa Linh, kiến Tham hóa Lộc : chủ đột nhiên hưng thịnh, lâu dài.
Như Tham hóa Kị : ắt một đời lao lụy, bất như ý. Như gia thêm Sát trọng (nhiều) : ắt thường xuyên gặp thất bại .
Nữ mệnh, không thích niên vận chuyển đến Thái dương tại Phu cung : chủ gặp người chồng không tốt.
Nam mệnh không thích niên vận Thê cung kiến (Thiên đồng hoặc Cự môn) chủ hãm vào cảm tình trói buộc, khó tự thoát ra.
kiến [Vũ Việt Phá] mà Vũ hóa Kị,chuyển đến đại hạn này, lưu niên lại thấy Xương hóa kị hoặc Khúc hóa Kị : chủ sinh phá bại .
mệnh tại mão cung, đại vận,lưu niên chuyển đến Thiên lương tại ngọ, nếu Lương hóa Lộc : tất tham tài háo sắc dễ phát sinh phiền toái,lại thấy Sát diệu ắt có hung họa, nhưng sau cũng hóa giải được.
tương hội với (cung) Thái dương, Cự môn ; hoặc cung “Cơ Âm ” là then chốt (trung tâm) của cuộc đời

1. Tử Tham tọa mão dậu vật dục / tình dục ***
2. Cự môn tọa thìn tuất kích phát / tao kị
3. Thiên tướng tọa tị hợi khai sang lực / nhân nhân thành sự
4. Thiên lương tọa tí ngọ cô khắc / dung hòa
5. Liêm Sát tọa sửu mùi phấn phát / cương lệ
6. Thiên đồng tọa thìn tuất khoáng đạt / đoản chí
7. Vũ Phá tọa tị hợi quát ứng / phản ảo
8. Thái dương tọa tí ngọ hư phù / trầm ổn
9. Thiên phủ tọa sửu mùi khiêm hòa / khiếp nhược
10. Cơ Âm tọa dần thân lý trí / tình tự

*** 1 thí dụ để thuyết minh rõ ràng
người tuổi Đinh. Mệnh Thiên phủ tại (Sửu),
phúc đức Tử Tham tại (Mão) Thiên diêu đồng cung
Tử Tham Phúc đức cung hội Xương Khúc (ở mùi cung), lại hội Khôi (Dậu), Việt (Hợi). tổ hợp mang tính chất tình cảm.  Đến đại hạn Quý mão, mệnh đại hạn là Tử Tham, phúc đức đại hạn là Thiên tướng, bị Hình Kị giáp, lại hội thêm Phá hóa Lộc (đại hạn can Quí thì Phá hóa Lộc) xung,vận này : thường thường dễ đưa đến vọng động .
cho nên tại giáp tí niên (năm Tí thì Mệnh cung lưu niên tại Tí, và năm Giáp thì Thái dương tại Tí hóa Kị) sáng nghiệp thất bại , sáng nghiệp với thất bại đều chịu ảnh hưởng (tính chất) cảm tình. Do đây có thể thấy phúc đức cung là chổ hiển thị trạng thái của tư tưởng, có thể báo hiệu xu thế của mệnh vận.

Advertisements

Phúc đức Cung


Phúc đức cung để đoán hưởng thụ Tinh thần,tư tưởng hoạt động,
Mệnh cung : suy đoán chủ yếu là hưởng thụ Vật chất. Hưởng thụ vật chất tốt, chưa chắc các hưởng thụ tinh thần cũng tốt. mà nhân sanh thì đâu phải chỉ hạnh phúc vật chất. tinh thần hưởng thụ chiếm một nhân tố rất lớn. Vì thế sự quan trọng của phúc đức cung ở đẩu sổ cũng không ở dưới mệnh cung.

Với Phúc đức cung đối xung là Tài bạch cung, có thể thấy tiền nhân cũng nhận ra là tinh thần hưởng thụ và Tài cung có quan hệ rất lớn, người nghèo chưa chắc đã nhất định thiếu thốn tinh thần hưởng thụ, nhiều người giàu ngược lại có cảm giác buồn rầu tịch mịch. đoán mệnh thời xưa, nếu tài bạch cung không tốt, mà phúc đức cung cát tường thì nên đoán là sinh hoạt tinh thần phong túc .
Phúc đức cung cũng có thể dùng để đoán (đương cục)cách cục có thị hiếu đặc biệt nào : thi thư cầm kỳ, tửu sắc tài khí, cờ bạc rượu chè, thậm chí hút sách, đều có thể do Phúc đức cung cung cấp phán đoán.

Phúc đức cung có :
Hỏa tinh : tinh thần nóng nẩy bất an,
Linh tinh : nội tâm lo lắng.
Kình dương : nhiều vất vả,
Đà la : nhiều lo lắng,
duy Không Kiếp: đôi khi là người tư duy độc đáo, chưa chắc đã không tốt .
Xương Khúc : tối hỉ (rất tốt),
Long Phượng,Thiên tài, Hoa cái có thể phụ trợ Mệnh : thông minh tài trí.
Lộc tồn : tốt tuy thiếu tinh thần xung phong, nhưng cũng được yên ổn. (so với Lộc tồn thủ Mệnh cung : quá phần so đo cẩn thận), nếu kiến Sát dễ chủ là người bủn xỉn,.
Khôi Việt : đoán có người chăm sóc, giúp đỡ. [nhưng chung thân tàn tật hoặc đầu óc chậm phát triển (nhược trí) cũng có người chăm sóc], nên phải cẩn thận suy đoán cát hung .
Chỉ số thông minh IQ của người cũng do Mệnh cung suy đoán, nhưng với Phúc đức cung có quan hệ rất lớn,nên bị nhược trí hay không hoặc tự kỷ chứng cũng có thể do đây mà suy đoán .
Phúc đức cung cũng có thể suy đoán biến thái tâm lý .
Phàm các điều thuật ở trên, lúc giảng nghĩa ở Mệnh cung thì, chưa đặc biệt thảo luận những kinh nghiệm về tinh hệ, nên chổ luận của phần này về các tinh hệ như lúc nhập Mệnh cung, cũng từng sao có tính chất đồng nhất, học giả có thễ linh hoạt vận dụng
Các sao Xương Khúc, Long Phượng, đào hoa, Thiên tài, Hỏa Linh có tính phù lộ, hiển hiện dễ thấy.
các sao Khôi Việt,Kình Đà, Khốc Hư, Hình Kị, Âm sát, Cô Quả : dễ ẩn chìm mà không rõ ràng,
những sao trước hướng ngoại, những sao sau hướng nội,cả hai quý ở chỗ trung hòa, nếu Phúc đức cung tập trung thiên về một loại sao,liền dễ sinh vấn đề,
phải lưu ý đại vận lưu niên, xem có tính cách bi kịch đưa đến xuất hiện rắc rối không. Phần này khó thuật đầy đủ.
Nếu như Phúc đức cung không tốt, nhưng tam phương lại tốt, mỗi chỗ có ý nghĩa đặc thù riêng.
Phu thê cung tốt, dựa vào phối ngẫu mà bắt đầu có tinh thần hưởng thụ,
Tài bạch cung tốt, hưởng thụ tất phải vung tiền.
Thiên di cung tốt, ly hương bội cảnh được hưởng thụ khoái lạc, tại nơi sanh mình (chôn nhau cắt rốn) nhiều khổ muộn.
Trên chỉ thuật nguyên tắc, phần này cũng khó thuật đầy đủ .

SỰ NGHIỆP Cung


SỰ NGHIỆP cung  còn gọi là cung Quan lộc.

cổ đại trọng quan chức, trọng kẻ và những người đỗ đạt ra làm Quan, mà Nông Công Thương đều không được xem là quý. do vậy khi suy đoán :
– có Cát diệu : là sĩ hoạn cao đến bậc nào, lợi văn chức hoặc vũ chức.
– có Sát Kị Hình : là mệnh thương nhân và mệnh thầy thợ,
cách đoán này, hiện đại hoàn toàn không thích hợp. Hiện đại là xã hội Thương nghiệp. Sự nghiệp cung Cát, chưa chắc đã từ sĩ hoạn xuất thân.

Đoán Sự nghiệp của người thời nay, khó hơn xưa rất nhiều.
Cổ nhân ngành nghề đơn giản, hiện đại phức tạp hơn nhiều.
Vì vậy, chúng ta cần phải tìm hiểu, chỉ có thể giới hạn ở tính chất công việc, mà tính chất giống nhau ví như ngành nghề có tính phục vụ : có thể là công tác xã hội,cũng có thể là phục vụ nhà hàng, có thể là môi giới cổ phiếu. do đây phải tham khảo tinh diệu của [Mệnh cung và Tài cung], mới có thể xác định chi tiết.
Sự nghiệp cung và Phu thê cung xung nhau,
Mệnh cung và Tài bạch cung tại tam phương hội nhau.

Quan hệ của Sự nghiệp cung với Mệnh cung cùng Tài bạch cung, không thể dùng thí dụ mà nói, cho đến quan hệ với Phu thê cung,
duyên cớ là ngày xưa do hệ thống cũ. Nam mệnh tại Thê cung gặp tinh diệu chủ quý (hiển), là điềm thê tử được thụ phong (ban thưởng),do đó có thể gián tiếp đoán quan lộc của người này. Ý nghĩa này, Đã biến mất trong hiện đại, nhưng có thể dựa vào lối suy đoán này để xem ảnh hưởng của hôn nhân đối với Sự nghiệp. Đặc biệt lúc tinh diệu ở Phu thê cung có giá trị, có thể là điềm báo có lợi nếu Phu thê hợp tác sáng nghiệp .
Vợ chồng cơm gạo “Sài mễ phu thê”, tự xưa đãthế, cho nên Chu mãi Thần cũng có nỗi đau [mã tiền phúc thủy] (trước ngựa đổ chén nước).
Tinh diệu của Sự nghiệp cung có thể ảnh hưởng hôn nhân, đây cũng là ý không thể dùng lời mà nói được. mặt khác (mà nói), tinh diệu của Phu thê cung cũng có thể ảnh hưởng Sự nghiệp, trừ căn cứ đã nêu ở trên “phu bằng thê quý “(chồng dựa vợ để quý) để suy đoán công danh của nam mệnh lợi lộc ở ngoài, Vẫn còn cần phải chú ý, thành bại của sự nghiệp, Không có nghĩa là thành công hay thất bại của hôn nhân. Nên trọng yếu là tinh diệu bản cung hơn tinh diệu đối cung.

Sự nghiệp cung và Phu thê.
Như sự nghiệp cung cát, phu thê cung cát : chủ phu thê có thể hợp tác công việc, hoặc hai bên phát triển thành công, mà quan hệ phu thê cũng hòa mỹ;
giả như sự nghiệp cung cát, phu thê cung bất cát, ắt phu thê mỗi người nên tự phát triển riêng nghề nghiệp của mình;
nếu sự nghiệp cung bất cát, mà phu thê cung cũng bất cát, ắt công việc của hai vợ chồng không giúp nhau được, tuyệt đối không nên hợp tác .
Hai cung Sự nghiệp và Phu thê rất không thích một gặp Không, một gặp Kiếp (ở đây là 2 cung Dần Thân có nó ắt chủ vì chịu ảnh hưởng phối ngẫu đưa đến bất lợi sự nghiệp (ví như vì nghiêng về phối ngẫu, tự mình hy sinh một chức vụ thuận lợi hơn) nhưng cả hai lại không thể theo cho đến cùng, vì vậy cũng thường ảnh hưởng hôn nhân)
Sự nghiệp cung và Phu thê cung tương xung, thời xưa còn trọng một ý nghĩa, tức chỗ nói “nam sợ chọn lầm nghề, nữ sợ chọn lầm chồng”, vì cổ nhân lấy mệnh nam nên xem trọng sự nghiệp cung (gọi là [cường cung]) , mệnh nữ rất xem trọng phu thê cung. ý nghĩa này, cơ bản vẫn không thể đem 2 cung này phân biệt làm[cường cung] [nhược cung] .

Sự nghiệp cung và Mệnh, Tài
Tinh diệu của Sự nghiệp cung, thường có thể hiển thị tính chất thích nghi của nghề nghiệp, tuy nhiên nên tham khảo tinh diệu Mệnh cung và tinh diệu Tài bạch cung mà định. Đại khái, tổ tinh diệu nào cát lợi hơn, hoặc hết sức đầy đủ đặc sắc, nên lấy tổ tinh diệu này làm chủ.
ví dụ như mệnh cung Tử Phủ / tài bạch cung Vũ khúc độc tọa / sự nghiệp cung “LiêmTướng“.
như Vũ hóa Quyền,Thiên di cung tọa Lộc tồn, ắt nên nhờ(hoặc căn cứ) tinh diệu mệnh cung và tài bạch cung, có thể đắp đổi cho nhau.nhưng do ở sự nghiệp cung là [Liêm Tướng],vì vậy nên cùng người hợp tác sự nghiệp,đặc biệt là tự mình tham gia kinh doanh.
Như mệnh cung Tử có hóa Quyền, mà tài bạch cung Vũ hóa Kị, nên làm việc trong các tổ chức lớn của chính phủ hoặc các sở, ban, ngành, ở đây căn cư tính chất sự nghiệp cung [Liêm Tướng], đảm nhiệm bộ môn hành chánh là thích hợp.

Sự nghiệp cungkiến Sát,
cổ nhân cho là nên theo thương nghiệp, hoặc thủ công.
thời nay không thể khái quát hóa như vậy. không ít trùm phú thương cũng sự nghiệp cung vô Sát diệu. đây vì kiến Sát ắt chủ địa vị xã hội hơi thấp, hoặc do địa vị thấp phát triển thành địa vị chí cao, vì thế tại cổ đại thích hợp buôn bán(thương nhân địa vị xã hội hơi thấp; nếu về sau mới giàu), thay thế giai cấp, địa vị cũng do thấp hay cao). Ở hiện đại đương nhiên không thể bất biến như vậy.
Cổ nhân nói thợ khéo léo, ở hiện đại thường thường là chuyên viên. điều này không thể không biết .
kiến Không Kiếp, đại khái tình huống nên tham gia vào những ngành nghề ít người làm, hoặc kì binh đột xuất, vận dụng thủ pháp ngoài sự tiên liệu. chỉ tối kị tham vọng lớn nhưng tài năng nhỏ(chí đại tài sơ), ắt sự nghiệp cả đời khó lòng khuấy động. Ở đây thí dụ là hậu thiên nhân sự có thể ảnh hưởng thành bại.
kiến Đà la:không phải chỉ sự nghiệp chậm phát triển,mà thường hữu danh vô thật, quyền lực bị hạn chế, có lúc cũng chủ sự nghiệp gập ghềnh, khó an cư để tọa hưởng thành quả.
kiến Kình : cổ nhân tin là chỉ nên theo vũ chức, ở hiện đại thường là nhân viên kĩ thuật.
kiến Hỏa Linh : chủ ba chiết. thường thường phải trải qua gian khổ mới có thể ổn định sự nghiệp.
tinh diệu không tốt : chưa chắc đã xác định sự nghiệp không tốt, phải xác định rõ bản chất không tốt, suy đoán nên theo nghề nghiệp nào, tức là cơ “xu cát tị hung” :
Như Thái dương hội Cự hóa Kị, nên [khẩu thiệt dĩ cầutài] (làm những nghề cần miệng lưỡi),như giảng dạy, hoặc làm công tác pháp luật;
như Hình Kị giáp Ấn : nên công tác ngành hình pháp kỉ luật. nên xét rõ bản chất [lục thậptinh hệ] mà định .
Lộc tồn đồng độ : đại khái nên kinh doanh những ngành nghề có sẳn (quầnáo may sẵn; sẵn sàng sẵn có), hoặc bước lên một giai cấp mới,nhưng không thể luận phú được. Nếu lại kiến Không Kiếp đồng độ, ắt chủ tiến thóai đều dở, thường băn khoăn về lương hướng (mức lương), hoặc không chịu kinhdoanh những ngành nghề sẳn có (hiện thành sự nghiệp), miễn cưỡng thay đỗi, kết quả ngược lại phải sập vào khốn cảnh.
Suy đoán Sự nghiệp một đời, có lúc phải tham khảo đại vận sự nghiệp trung niên mà định.
Như nguyên cục Sự nghiệp cung : hết sức tốt,
nhưng sự nghiệp cung trung niên : có đại phá bại,
tức : không nên hấp tấp làm một mình. đây cũng là đạo lí “xu cát tị hung”.

THIÊN ĐỒNG – CỰ MÔN tại Sửu Mùi


Đồng Cự tại Sửu Mùi có 2 tính chất : minh lãng / âm ám.

Cự Môn là sao thị phi khẩu thiệt, vì thế Thiên Đồng Cự Môn đồng cung không thể phát huy ưu điểm, chỉ nên theo những ngành nghề lấy khẩu tài làm chủ đích công việc, Nữ mệnh có thể làm giáo viên hóa trang, thợ uốn tóc, cắm hoa, nấu ăn, tức dùng miệng để truyền thụ một loại học vấn về hưởng thụ. Nếu theo những ngành nghề khác, cuộc đời dễ chiêu khẩu thiệt thị phi.

Đồng Cự cần phải hội Xương Khúc hoặc Khôi Việt, hoặc Phụ Bật.
Mệnh có Tả Hữu giáp đồng thời Khôi Việt hội chiếu : có thể phú quý.nên làm công chức giáo chức, hoặc tại đại xí nghiệp, Ngành dịch vụ. cũng có thể làm quảng cáo, truyền bá …. Duy thiếu niên khó tránh ghập ghềnh, cuộc đời khó khỏi tân lao, cần phấn đấu sau mới được thành tựu.

Đồng Cự tọa mệnh, có một cách cục đặc thù,
người tuổi Đinh tại Mùi, Địa kiếp đồng cung Kình (Kình và Địa kiếp đồng cung hoặc hội chiếu). Do ở Tài bạch cung vô chánh diệu, mượn Dương Lương của đối cung, vì vậy toàn bộ kết cấu tinh hệ, liền biến thành là Đồng Cự hội hiệp [Dương Lương, Cơ, Kình, Kiếp] : làm mạnh thêm sắc thái thị phi khẩu thiệt, nhưng đồng thời cũng làm mạnh thêm tính chất phục vụ công chúng, vì thế rất nên theo các ngành dịch vụ, công tác xã hội,giáo dục, truyền bá, có thể thành nhân vật lĩnh đạo. Nếu mệnh cung có đào hoa hoặc văn diệu, có thể theo nghề âm nhạc biểu diễn, hoặc thành danh trong giới văn hóa.

Ngoài cách cục này ra còn có một đại cách.
mệnh ở Mùi cung vô chánh diệu,mượn Đồng Cự ở Sửu cung để dùng, gọi là [minh châu xuất hải cách] (như Sửu cung vô chánh diệu mượn Đồng Cự của Mùi cung không nhập cách này). Cổ nhân ghi nhận là [minh châu xuất hải, tài quan song mỹ]. tinh diệu cung này đắc Nhật Nguyệt hội chiếu, lại có Thiên lương ảnh hưởng tính chất của Cự môn, đem thị phi khẩu thiệt tranh tụng chuyển hóa thành nghiên cứu sâu về học thuật,đem tính chất sao này xử dụng đúng chỗ, làm hiển đạt danh dự, được người tán tụng. (Tham thảo vấn đề học thuật kỳ thật cũng là khẩu thiệt và tranh tụng, cổ nhân gọi là tự tụng, do lúc phải thâm nhập nghiên cứu một môn học vấn, tất phải đem cái tôi hôm nay và cái tôi hôm qua cọ sát nhau, rồi sau học vấn mới tiến bộ). Giả như [minh châu xuất hải cách] lại thấy thêm Phụ Bật giáp sửu cung hoặc mùi cung, gặp Xương Khúc, Khôi Việt cách cục càng đẹp, người tuổi Ất Đinh Tân Quý càng tốt, cục diện sự nghiệp hết sức lớn lao.

Đồng hóa Lộc(tuổi Bính) tăng gia hưởng thụ (hội Cơ hóa Quyền).
Cự hóa Lộc (tuổi Tân) tăng gia thu nhập (tất Nhật hóa Quyền hội Lộc tồn).
Đồng hóa Quyền (tuổi Đinh) tất Cự hóa Kị và Cơ hóa Khoa, tuy tình trạng hôn nhân được cải thiện, nam chủ được vợ hiền mỹ, nữ chủ chồng tài cán (Âm hóa Lộc tại Phối), nhưng tự mình lại nhiều khẩu thiệt thị phi.
Cự hóa Quyền (tuổi Quí) (hội Kình Đà) gia tăng lực thuyết phục, và tính chất thị phi khẩu thiệt bị triệt tiêu. Như thuộc [minh châu xuất hải cách] mà Cự hóa Quyền, là bậc thầy về nghi lễ hoặc chuyên viên pháp luật, nên phát biểu ý kiến của công chúng.
Đồng hóa Kị (tuổi Canh) tăng gia gian khổ.(vì hội Kình Đà).
Đồng Cự tọa 2 cung Sửu Mùi / tam hiệp cung Thiên cơ độc tọa / cùng tá tinh an cung Dương Lương.
suy đoán bản chất của Đồng Cự, phải chú ý sắc thái tình cảm của tinh hệ này là minh lãng hoặc âm ám,vì Cự Môn là ám diệu, Thiên Đồng là sao tình tự, hai sao đồng cung, tức thành tình tự hoặc tình cảm âm ám lộ rõ, xác định bản chất phải chú ý mức độ âm ám.

Đồng Cự ở Sửu, mượn Dương Lương ở Mão nhập vào Dậu cung, do quang huy của Thái dương ở Mão cung, liền giảm âm ám của Đồng Cự.
Nếu Đồng Cự ở Mùi, mượn Dương Lương của Dậu cung hội chiếu, do Thái dương ở Dậu cung đã thuộc Nhật lạc tây san, quang nhiệt không đủ, lực lượng giải ám không bằng Dương Lương của Mão cung.

Nếu mệnh ở Mùi vô chánh diệu, mượn sửu cung Đồng Cự an tinh, được Dương Lương của Mão cung, Thái âm của Hợi cung hội chiếu.Thái dương của Mão cung là [nhật chiếu lôi môn], Thái âm của Hợi cung là[nguyệt lãng thiên môn], do đó đều có thể giải âm ám của Đồng Cự, thậm chí có thể biến nó thành minh lãng. là lí do cổ nhân gọi đây là [minh châu xuất hải cách].

mệnh Sửu mượn Mùi Đồng Cự,không thuộc [minh châu xuất hải cách],
Từ bổn thân Đồng Cự mà xét,
Đồng hóa Kị, Cự hóa Kị : đều làm gia tăng âm ám, đây là cách cục thấp.
Đồng hóa Lộc, hóa Quyền, có thể giảm thiểu âm ám của Đồng Cự.
Cự cát hóa, Đặc biệt phải trải qua ba chiết rồi sau tay trắng dựng nghiệp, (không bằng được cái tốt của Đồng cát hóa)
Đồng Cự minh lãng, tương đối không sợ Sát diệu,
Đồng Cự âm ám,sợ Sát diệu cùng hội.
Đối với Xương Khúc cũng thế, Đồng Cự âm ám giả như thấy thêm Khúc hóa Kị, Xương hóa Kị : ắt cảm tình khốn nhiễu càng lớn, không đủ những quan hệ giao tiếp bên ngoài, đặc biệt là tình cảm nam nữ khốn nhiễu, có thể thống khổ trong lòng .
vì vậy có thể nói, Đồng Cự cách cục cao hay thấp, phải lấy miếu hãm của Thái dương mà định, kế đó phải xem tứ hóa của Đồng Cự.

Sự nghiệp cung Thiên cơ,
Cơ hóa Kị (tuổi Mậu): ắt gia tăng ảnh hưởng âm ám, lúc này khiến cho Đồng Cự phát triển thành nội tâm lo lắng bất ổn,đưa đến kế hoạch sai lầm, đây cũng là biểu hiện của âm ám lộ rõ.
Trong tổ tinh hệ thứ nhất (tức tinh bàn cơ bản của Tử vi tại tí ngọ), Đồng Cự của hai cung sửu mùi thuộc về nhược cách, tức tiên thiên đã không bằng tinh hệ khác, để có thể thành thượng cách [minh châu xuất hải cách] tá tinh an cung thuộc ngoại lệ), tuy kiến cát hóa, hoặc Thái dương tại mão cung chiếu hội, cuộc đời tất có sự đáng tiếc. vì thế cách cục này, đối với Sát Kị Hình diệu đặc biệt mẫn cảm.
rất không thích đồng cung với Kình,hội chiếu cũng không tốt, nếu lại cùng đồng độ với Khúc hóa Kị, Xương hóa Kị, âm sát, thiên hư, kiếp sát, dễ bị người âm ức chế.
Tại tình hình này, dù Cự hóa Lộc cũng chủ tinh thần ‘hư không’, dù Đồng hóa Lộc cũng chủ cuộc sống có khi vô nghĩa (cảm giác mình không bằng người) (ví như rõ ràng có thể có việc làm ăn, đột nhiên có người đoạt mất).
Đồng Cự kiến tứ Sát, Kị, Hình :đương nhiên khốn nhiễu, Đồng Cự hội Lộc, Quyền, Khoa, và không thấy các sao Sát Kị Hình Hao, mới có thể thành cấu trúc tốt hơn.

lưu niên vận hạn cùng thấy Lộc, Quyền, Khoa.
Kết cấu minh lãng,hoặc âm ám (nhẹ) của Đồng Cự, thích chuyển đến
Ví dụ như cung Vũ Tướng, có thể cấu thành tổ hiệp Liêm hóa Lộc, Phá hóa Quyền, Vũ hóa Khoa,[Phá quân độc tọa, có thể hóa quyền cùng với vũ khúc hóa khoa củng chiếu]. Phàm loại tinh hệ này kiến cát hóa, đều là chỗ Đồng Cự thích đến, nếu không thấy Sát Kị đồng thời đến hội : có thể hứa là giai vận, duy giai vận một khi qua đi, phải phòng âm ám theo sau.
Duy tinh hệ thuật ở trên, vẫn không tốt bằng Dương Lương tại mão cung hóa Lộc Quyền Khoa, nếu không kiến Sát, ắt âm khí của Cự môn mất hết, thành là giai vận. vì thế Đồng Cự tối hỉ đến vận hạn Dương Lương.
Đồng Cự Âm ám lộ rõ mạnh , ngay cả khi đến cung thuật ở trên, tinh hệ đã cát hóa, cơ hội cũng không toàn mỹ, hoặc tinh thần hư không, hoặc sanh hoạt tinh thần bị bỏ phế, nhưng sanh hoạt vật chất cảm thấy mệt mỏi. nếu lại thấy sát diệu và cát diệu đồng độ : càng dễ cảm thấy áp lực, hoặc nội tâm nhiều thống khổ.

lưu niên vận hạn có Sát Kị tụ hội :
Đồng Cự Âm ám nặng : thậm chí có thể bị người uy hiếp. Nếu lại gặp [Dương Lương] hóa Kị, kiến Hình, Kình : là bị nghiện ngập (ma túy).
Đồng Cự Minh lãng : tuy không chủ bị người uy hiếp, cũng chủ tình tự không cân bằng, tình cảm bị thương tổn.
Phàm Đồng Cự đều không thích đến cung :
– Khúc hóa Kị, Xương hóa Kị. Vô luận là đại hạn hoặc lưu niên, đều là phá tài tổn thất, bị người dìm xuống,hoặc gặp tật bệnh, hoặc thấy tang tóc đến với mình.
– [Dương Lương] hóa Kị, dễ sinh thị phi khẩu thiệt, kiến Hình diệu : có oan ngục, nhẹ thì bị người phỉ báng, hoặc bị người đem trách nhiệm đẩy qua cho mình, cũng chủ xuất hiện tình cảm ám muội, tình không được đáp lại, yêu đơn phương, đưa đến nội tâm thống khổ.

**một thí dụ Đồng Cự tại [phụ mẫu cung]**
người tuổi Bính, phụ mẫu cung Đồng Cự tại Mùi, Đồng hóa lộc, hội đối cung Xương Khúc, (Xương hóa Khoa).

Tổ tinh hệ này tuy kiến cát hóa, Mão cung vô chánh diệu, mượn Dương Lương của Dậu cung an tinh, Thái dương của cung Dậu quang độ không đủ, do vậy Đồng Cự của phụ mẫu cung tuy kiến cát hóa, vẫn còn âm ám lộ rõ.

Đến đại hạn Đinh Dậu,
Dương Lương thủ mệnh, tá hội [Đồng Cự], mà Cự hóa Kị,là mầm mống thị phi hình kị. Đại hạn phụ mẫu cung Thất sát tại Tuất cung độc tọa, bị Liêm Phủ của nguyên cục chiếu xạ, mà Liêm hóa kị, lại có Đà la của nguyên cục chiếu hội. vì thế, liền chủ có xung đột tình cảm với [phụ mẫu].
phụ mẫu cung của Mệnh bàn, thường dung để suy đoán quan hệ của mình với người trên, đại hạn đinh dậu cung phụ mẫu phát sanh tình huống, cũng nên dùng suy đoán cấp trên chớ không phải phụ mẫu.

năm Đinh mùi,
mệnh niên Đồng Cự, Cự tái hóa Kị, lưu niên phụ mẫu cung Vũ Tướng, bị Cự hóa Kị( hai lần) và Thiên lương giáp,thành [Hình Kị giáp Ấn] tình huống nghiêm trọng, lại hội Liêm hóa kị, kết quả tất nhiên hội do[tâm bệnh] mà đưa đến bất hòa với cấp trên, tâm lý bị uy hiếp, gia thêm (hai) Kình nhập vào lưu niên mệnh cung, cuối cùng đưa đến quan hệ tình cảm cực xấu.
Như quả nguyên lai Đồng Cự của phụ mẫu cung thêm âm ám(không thấy cát hóa), tình hình càng thêm đáng ngại, có thể bị cấp trên hãm hại. Nếu như quả nguyên cục phụ mẫu cung không hội chiếu Thái dương của Dậu cung, mà là hội chiếu Thái dương của Mão cung, Tình hình sẽ được tốt hơn, đại hạn lưu niên phụ mẫu cung mặc dù tính chất tương tự, áp lực sẽ nhỏ hơn .

TỬ VI – THIÊN PHỦ tọa Dần Thân


Tử Phủ dần thân có 2 đặc tính chủ động / bị động .

Tử vi là bắc đẩu chủ tinh, tính lợi khai sáng ,
Thiên phủ là nam đẩu chủ tinh, tính lợi bảo thủ ,
vì vậy hai chủ tinh gặp nhau, không chỉ có xung đột [một rừng không thể chứa hai hổ], mà tính chất hỗ tương rất khiên cưỡng (gượng), ngược lại còn khó phát huy. Nói chung, chỉ chủ thanh cao, thậm chí có thể trở thành cô phương tự thưởng (tự mình hâm mộ mình).
Tử Phủ thủ Mệnh nên theo “nghiệp văn, công chức” cũng được, không nên kinh thương, nếu không vậy tiến thóai đều dở, thường thường bỏ mất dịp may, hoặc biến khéo thành vụng.

nếu Tử vi hóa Quyền, Khoa, lực Tử vi rất mạnh : khí phách lớn;
nếu Phủ hóa Khoa, Chỉ có xu hướng trọng tín, một lời nhất ngôn cữu đỉnh, tuy “thuần lương” lại khiếm khuyết năng lực lĩnh đạo và khai sáng.  

Loại kết cấu tinh hệ này,
gặp [Lộc Mã giao trì] hội : phú quý song toàn;
gặp [Lộc Văn củng mệnh] : cũng phú quý ;
các sao Phụ tá hội hiệp : quý mà bất phú .  

Nếu không có Phụ tá, mà lại gặp Tứ Sát (Hỏa Linh Kình Đà), ắt là người phản chủ, bề ngoài trung thành bên trong điêu trá, mặt trái nhiều thị phi.
gặp thêm Không diệu hoặc lạc Không vong : ắt là người cô độc, làm thuê để độ nhật (qua ngày) .  

Nữ mệnh, nếu phúc đức cung Tham lang gặp các sao đào hoa : cần nên xem trọng sinh hoạt tình cảm; như mệnh cung cùng thấy các sao Sát Hình chỉ nên làm vợ kế, hoặc do quá tự mãn (cô phương tự thưởng) mà không lập gia đình.

[Tử Phủ] tại Dần Thân đồng cung / đối cung là Thất Sát / tam hiệp cung hội Vũ khúc độc tọa, cùng [Liêm Tướng]
suy đoán tính chất[Tử Phủ] của tổ hợp tinh hệ này, phải chú ý tính chất là “chủ động hay bị động” .
Thuộc tính chất chủ động : công thủ đều phù hợp ,
Nếu mang sắc thái bị động : tiến thóai đều dở .   

Lấy bản thân Tử Phủ mà xét, kì thật đã ‘mang sẵn tính chất mâu thuẫn’.
Tử vi giỏi khai sáng, (canh tân).
Thiên phủ chuyên thủ thành, (bảo thủ).
hai sao đồng cung, tính chất cân bằng ắt tự nhiên vừa công vừa thủ,

Nếu thiên về một bên,
Thiên về Tử vi ắt nghi ngờ kéo theo Thiên phủ : tiến không dám tiến ,
Nghiêng về Thiên Phủ ắt nghi ngờ ảnh hưởng Tử vi : muốn thối không dám thối, lúc này mọi sự rơi vào bị động, chỉ có thể dụng toàn lực để ứng phó với hoàn cảnh khách quan.  

Tam phương tứ chánh hội Thất Sát cùng Vũ khúc, mang tính chất thiên về Tử vi : nơi nơi tranh thủ chủ động ,
– Nếu Vũ hóa Khoa (can Giáp), dễ theo phối hiệp với Thiên phủ, ắt tuy chủ động mà không khiến cho Tử Phủ mâu thuẫn thái quá, chỉ cần Liêm Tướng không bị Hỏa Linh xâm nhiễu, về cơ bản được coi là Tử Phủ tính chất cân bằng, nên vừa công vừa thủ : tốt.  
– Như Vũ + Hóa Quyền (can Canh, Tử Phủ hội Lộc Mã giao trì, ngòai ra còn Nhật hóa Lộc, Nguyệt hóa Khoa), khiến sắc thái chủ động của Tử vi gia tăng , tuy nhiên Tử Phủ tinh hệ chưa chắc đã mất đị sự quân bình, tuy cuộc sống sóng gió nhưng so với lúc Vũ hóa Khoa (can Giáp, Tử Phủ hội Lộc Mã giao trì, ngòai ra còn Liêm hóa Lộc tại Sự nghiệp cung)thì tốt hơn. không luận nam nữ , khoảng 30 tuổi đa số phải trải qua một lần tỏa chiết, là bế tắc tình cảm hoặc bế tắc vật chất, phải rõ tổ hợp tinh hệ đại vận mà định tính chất cụ thể.  
– Như Vũ hóa Lộc(can Kỉ, Tham hóa Quyền tại Phúc cung), tính chất giống với Thiên phủ, cũng lợi ở Tử vi khai sáng, vì vậy cơ bản thích hợp cho công và thủ tốt. Chỉ cần Tử Phủ hội Lộc tồn, có thể hóa giải khí cô khắc của Vũ Khúc. Nếu không có Lộc tồn : ắt thời thơ ấu phải khá gian khổ .  

Liêm Tướng tinh hệ, tính chất cơ bản nghiêng về Thiên Phủ.
– khi là [Hình Kị giáp], ắt gia thêm bảo thủ tính của Thiên Phủ, từ trung niên về sau, sự nghiệp đã có cơ sở, tại thời điểm này không nên có tư tưởng thay đổi, nếu không dễ dẫn tới thất bại, hoặc trung niên đột nhiên sanh cảm tình khốn nhiễu (lo lắng, lúng túng, bế tắc), bất lợi phu thê .  
– Khi Liêm Tướng là [Tài Ấm giáp], lực thủ thành càng mạnh, Đồng thời, tình cảm được đánh giá theo tài sản. lúc Tử Phủ thêm Sát diệu, nếu không an phận giữ mình, ắt cảm tình vật chất đều có khả năng bị tỏa chiết. đặc biệt người lúc nhỏ càng ưu việt, bế tắc càng lớn.  

Tử Phủ ở lục thân cung, càng dễ có khuyết hãm. Như hai lần phụ mẫu, lưỡng lần hôn nhân, ở giao hữu cung : thường thường có ý nghĩ thay đổi bạn bè. Đây là do Tử Phủ tính chất không dễ cân bằng nhau, một khi mất quân bình, hơi thấy Sát Hình chư diệu dễ biến thành tính chất không tốt.   

Các trường hợp Tử Phủ là chủ động :
Vũ hóa Khoa Quyền Lộc.
Liêm Tướng không hội Hỏa Linh.

Các trường hợp Tử Phủ là bị động :
Liêm Tướng “Hình Kị giáp” “Tài Ấm giáp”
Liêm hóa Kị.
Tử Phủ hội Kình Đà.
Liêm Tướng có Kình đồng cung.
Tử Phủ kiến Sát Hình Kị.
Vũ hóa Kị.

Tử Phủ lưu niên vận hạn qua 12 cung .

Cung có Thiên Cơ tại Sửu Mùi

Tử Phủ chuyển đến, không chủ biến động thực tế, mà chủ tư tưởng biến hóa. nếu Tử Phủ tính chất không cân bằng chuyển đến cung này, tính chất của Thiên cơ lại làm mạnh thêm sắc thái không cân bằng, dễ dàng biến thành căn thâm cố đế (gốc sâu rễ chắc), có thể ảnh hưởng hậu vận.

thí dụ nữ mệnh nguyên cục Tử Phủ hội Liêm hóa Kị, Thiên Phủ do đây chịu ảnh hưởng, dễ bị một chút bất đắc ý là lập tức thoái lui. Lúc chuyển đến cung Thiên Cơ độc thủ : liền dễ chọn tạm cái ngắn hoặc chọn cái có vẻ thành công, ngay cả khi có ý tưởng thay đổi, cũng thiếu dũng khí để thay đổi thực tế, 10 năm đến vận hạn này, lúc đến vận kế tiếp, cũng không có hùng tâm dựng nghiệp. đã có xem cuộc đời của một nữ nhân, đại vận Lộc Quyền Khoa hội mà bản thân chỉ là nội trợ, tức là do các lí do trên.

như nam mệnh
nguyên cục Tử Phủ có Kình Đà chiếu, đặc biệt là lúc Vũ có Kị + Đà đồng cung : không muốn tiến.
nguyên cục [Liêm Tướng với Kình đồng cung], lúc vận đến cung Thiên cơ : thường dễ ngại gian nan và thường xuyên lo sợ sai hướng trong cuộc sống.

ở vận hạn lưu niên nếu Cơ hóa Lộc : nên được Tử Phủ chủ động; nếu Cơ hóa Khoa rõ ràng nên là Tử Phủ bị động . là (vì kiến Lộc lợi tranh thủ, kiến Khoa ắt nên giữ gìn thanh dự) .  

Cung có Phá quân tại Tí Ngọ

Phá hóa Lộc, Quyền, khiến Tử Phủ chủ động : có lợi , chỉ không nên lý tưởng quá cao, gặp được vận tốt tức liền theo vận tốt tiến lên, nếu không ắt vì lý tưởng cao mà gặp bất đắc ý.  
Như Phá có Kình Đà hội chiếu, khiến Tử Phủ bị động, có thể chậm chậm kế hoạch, từ từ chuyển nhẹ. cũng dễ bị người ảnh hưởng, cấp tốc cải biến ắt thất bại. nên lúc chuyển đến cung hạn này, Nên thận trọng việc lựa chọn các đối tác liên doanh.

Cung có Thái dương tại Tị Hợi

Thái dương nhập miếu, khiến Tử Phủ chủ động,
Thái dương lạc hãm, khiến Tử Phủ bị động .
chủ động : chủ danh lớn hơn lợi, hoặc bằng uy tín riêng tranh thủ tài lộc .
Nếu Thái dương hóa Kị : phải cẩn thận khi đầu tư .
Thái dương hóa Quyền Lộc : không luận tính chất Tử Phủ : đều là vận hạn lưu niên thuận toại.  

Cung Vũ khúc tại Thìn Tuất

Tử Phủ chủ động đến : nói chung có lợi.
chỉ khi nguyên cục Vũ hóa Kị, Tử vi tất đồng thời hóa Quyền, ắt Tử Phủ chủ động lực rất mạnh, loại kết cấu này, lợi nam bất lợi nữ ,
nữ mệnh tăng gia cô khắc, hơn nữa lại ngại quá chủ động .
Nam mệnh khi vận chuyển đến cung Vũ hóa Kị, Không phải không đủ lực để thay đổi, vẫn còn có thể duy trì cái tốt.   

Cung Thiên đồng tại Mão Dậu

đối với Tử Phủ mà nói, Thiên Đồng thuộc trung tính. Thiên Đồng kiến Lộc Quyền Khoa, không luận tính chất Tử Phủ : đều tốt.
Như thấy Hình Kị chư diệu , trong đó Cự hóa Kị đến hội Thiên đồng, ắt Tử Phủ : dễ đang vô sự lại gây chuyện, tự sinh khốn nhiễu. ở lưu niên gặp điều này : ắt là năm tình cảm biến hóa, đặc biệt là lúc thấy đào hoa chư diệu. giả như Sát Hình trùng trùng : ắt vì cảm tình biến hóa mà ảnh hưởng tài bạch sự nghiệp. như lại thấy Văn khúc hóa Kị đến hội : ắt là đào hoa kiếp nghiêm trọng.  

Cung Thất sát tại Dần Thân

không nhất định sanh biến hóa, tất phải thấy Lộc Mã giao hội, mới chủ hòan cảnh khách quan không thể không biến.
Vì vậy Tử Phủ bị động , phải cần Thất sát Lộc Mã đồng hội . rồi sau mới chủ biến động . Biến động tốt hay xấu, xét tinh diệu hội hiệp vận hạn lưu niên mà định . mừng nhất hội Phá hóa Quyền ắt tự nhiên có thể nơi nơi tranh thủ chủ động, giới thời tức vi cụ khai sáng tính đích niên phân .(thời điểm phân định khai sáng)  

Cung Thiên lương tại Sửu Mùi

Tử Phủ nói chung không thích chuyển đến cung hạn có Thiên lương, vì Thiên lương không mang tính chất lĩnh đạo.
vận hạn này không trở ngại gì nhiều, nên lui về hậu trường, thời điểm Tử Phủ lão vận đó .
nếu lưu niên đến cung Thiên lương có Sát Kị hội, tưởng là thăng nhưng thật sự là giáng.
Tuy nhiên khi hội được Thái dương miếu và kiến Cát hóa : lại lợi cạnh tranh .  

Cung có Liêm Tướng tại Tí Ngọ

Liêm Tướng giáp Hình Kị, Tử Phủ chủ động hay bị động đều bị đình trệ, bị thụ chế.
Liêm Tướng giáp Tài Ấm : Chỉ muốn thoái lui làm phó, Ngay cả khi thật sự đảm nhiệm công tác lĩnh đạo, cũng không nên mang danh đứng đầu .
thấy Liêm hóa Lộc : Đặc biệt phải chú ý là không nên nổi tiến.  

Cung có Cự môn tại Tị Hợi

chỉ cần không hóa Kị, và có Thái dương miếu chiếu hội, Tử Phủ bất kì tính chất nào cũng lợi .
Như Lộc Quyền Khoa hội : lại được nơi khác đề bạt, hoặc trong năm lợi hợp tác.
Nữ mệnh phải phòng bị tình cảm khốn nhiễu ,
nam mệnh , như phúc đức cung kiến đào hoa : dễ chuyển tình yêu đến một người khác .  

Cung có Tham lang tại Thìn Tuất

như Tham hóa Kị ,
Tử Phủ chủ động : hết sức có lợi khi chuyển đến, vận trình lúc bấy giờ biến thành truy cầu lý tưởng.
Tử Phủ bị động : ngược lại dễ thất cơ .  

Như vận hạn, lưu niên kiến Tham Hỏa, Tham hóa Lộc, Tử Phủ bị động dễ mất quyết tâm (táng chí), như nhập vào hảo vận, cũng không có kế hoạch tiến thủ, cuối cùng thất thủ.

Cung có Thái-âm tại Mão Dậu

Tử Phủ đến Thái âm miếu : cát lợi.
Tử Phủ đến Thái âm hãm : không nên , lợi cho Tử Phủ bị động , Tử Phủ chủ động cũng hơi có lợi .
nếu Thái âm hóa Kị , Tử Phủ chuyển đến này : dễ vì đắc ý vong hình, đầu tư càn mà thất bại.
nếu Thái âm hóa Lộc : sau đó mới có thể đạt đến đỉnh thành công (đại triển hồng đồ)

Tử Phủ thủ mệnh
tối hỉ kiến Lộc. kiến Lộc-tồn đồng cung, Liêm hóa Lộc đến hội : chủ cự phú. niên hạn thấy hóa Lộc, Lộc-tồn là có thể ứng.
như Tử Phủ tại Dần, người tuổi Giáp, vận đến Đinh Mão chủ đắc tài hoặc gặp được nhiều cơ hôi để phát đạt .
Tử Phủ thích chuyển đến cung Vũ khúc độc thủ, kiến lưu Lộc hoặc Tham hóa Lộc, Liêm hóa Lộc : chủ đắc tài . như lại có phụ tá cát diệu, không bị Sát Kị Hình hội chiếu, nguyên cục Tử Phủ lại là kết cấu cát lợi : tay trắng mà thành cự phú .
Tử Phủ vô Lộc , chuyển đên niên hạn kiến Lộc thì tốt
Tử Phủ có Lộc, chuyển đến niên hạn Thái dương tại Tị kiến Cát tinh, Phụ diệu, chủ địa vị tăng cao. Thái dương tại hợi cung cũng tốt
vận đi nghịch, đại hạn gặp Thái dương hoặc Vũ khúc, mệnh vận cuộc đời đến chỗ then chốt;
vận đi thuận, đại hạn Tham lang (Vũ tại đối cung), hoặc đại hạn Cự môn (Thái dương tại đối cung) là then chốt. cát hay hung, ảnh hưởng đến cuộc đời rất lớn .

1. Tử Phủ tọa Dần Thân chủ động / bị động ***
2. Thái âm tọa Mão Dậu kiên cường / bạc nhược***
3. Tham lang tọa Thìn Tuất kiên nhẫn / táo tiến
4. Cự môn tọa Tị Hợi thâm trầm / xung động
5. Liêm Tướng tọa Tí Ngọ cương nghị / thúy nhược
6. Thiên lương tọa Sửu Mùi chính trực / tinh minh
7. Thất Sát tọa Dần Thân cô cao / uy quyền
8. Thiên đồng tọa Mão Dậu không hư / sung thật
9. Vũ khúc tọa thìn tuất nhân tuần / tiến thủ
10. Thái dương tọa Tị Hợi tích cực / tiêu cực
11. Phá quân tọa Tí Ngọ ngoan hiền / quả cảm
12. Thiên Cơ tọa Sửu Mùi thượng tiến / hạ du

Đơn cử 1 thí dụ Tử Phủ tọa “phu cung” .
Mệnh cung Tham lang tại Tuất, phu cung Tử Phủ tại Thân,
người tuổi Kỉ, (Tham hóa quyền cùng Vũ hóa Lộc tương xung).
Tử Phủ đắc hội Lộc của Vũ mà không có Lộc tồn điều hòa, mang theo tính cô khắc. sao Tham lang ở cung mệnh hiện rõ tính tích cực.
Đến đại vận Đinh Sửu,
Mệnh cung đại vận (tại Sửu). Phu cung đại vận (tại Hợi) Cự hóa Kị độc tọa
Bính Dần niên,
Mệnh cung lưu niên (tại Dần).
Phu cung lưu niên (tại Tí) có Tướng Liêm hóa Kị, lưu Kình Đà cùng chiếu, lại thấy Linh tinh : chồng năm này bệnh can (gan) rất nặng.

TỬ PHÁ tại SỬU MÙI


[Biểu tượng của đối lập]

Tử Phá có 2 tính chất động đãng / an định hay bất ổn / bình ổn

Tử Phá sửu mùi, đây là một tổ hợp tinh hệ có “lực khai sáng”. Phá quân là tiên phong chiến tướng, được Tử vi một bên kiểm soát. Vì vậy lực phá hoại giảm mà lực sáng tạo lại tăng. tuy nhân sinh khó tránh tân lao, tuy nhiên do người nhiều lãnh đạo lực và khai sáng lực nên trải qua nhiều tân khổ rồi thành công.

Phá hóa Quyền(tuổi Giáp) (Phá có lực chống đối), lực biến động của Phá gia tăng : khiến đời sống nhiều biến động.
Nếu kiến Phụ Bật có thể giảm thiểu tân lao,
gặp Sát diệu chỉ nên kinh thương, và phải kinh doanh những nghề có tính chất cải tiến,

Phá hóa Lộc (tuổi Quí): lực khai sáng tăng đồng thời tiến tài có thể thực hiện những công việc khó khăn. nhưng nhiều tình cảm khốn nhiễu nghiêng về hưởng thụ nhục dục. vì (tuổi Quí) Tham hóa Kị tại tỵ hợi nhân đó hội hợp với Phá hóa Lộc mà phát sinh tác dụng.

Nếu Phá hóa Quyền hay hóa Lộc, đều có thể khiến người có cách cục này “phú quý”. nhưng nếu đồng thời hội hợp Tứ Sát Hình Kị, ắt tuy phú quý cũng chiêu thị phi khẩu thiệt. dễ có tranh tụng, nhưng nếu là người trong giới võ chức hoặc pháp luật lại hợp.

Tử Phá tinh hệ chủ “biến động”, người kinh doanh phải chú ý khi việc phát sinh, có khả năng kinh doanh 2, 3 việc cùng một lúc. Nếu là nhân viên, là người kiêm nhiều việc hoặc làm thêm giờ. Tuy nhiên, cũng có thể chỉ làm 1 việc.

Tử Phá toạ mạng là người cảnh trực sáng suốt, ngay thẳng, nếu thấy Hoa cái ắt nên nghiên cứu tôn giáo hoặc triết lí .
Tử Phá toạ mạng, phúc đức cung Thiên phủ : người suy nghĩ cẩn thận,
khi Tử Phá hội Sát diệu, Không diệu, là lúc biểu hiện tính cách chính chắn này. (suy nghĩ cẩn thận)

“Phá quân, làm thần bất trung, làm con bất hiếu.
Tử Phá đồng cung vô Tả Hưũ, vô cát diệu : quan lại hung ác”.
điều này xuất từ tính có xu hướng giải thích phóng đại. nếu có cát diệu hội hợp, những điểm xấu này Có thể được giảm bớt hoặc thậm chí loại bỏ

Tử Phá sửu mùi / đối cung tất là Thiên tướng / tam hợp là Liêm Tham cùng Vũ Sát.
tổ hợp này liên quan đến 3 sao Sát Phá Tham, tính chất tinh hệ cứng cỏi, do vậy (gặp) Tứ Hóa hết sức mẫn cảm. phải suy đoán bản chất của tinh hệ, Cần lưu ý sự khác biệt giữa [nhiễu loạn và sự ổn định]

Tử Phá đồng cung, bản thân tự có tính chống đối(bạn nghịch tính) rất mạnh. không giống Phá quân dần thân độc tọa. còn có phân biệt giữa bạn nghịch và thuận tòng.

bạn nghịch tính kì thực cũng là lực khai sáng, vì trước phải bỏ cũ sau mới canh tân. vì vậy hiện thực nỗi loạn, thực tế là khai sáng. không luận bạn nghịch hay khai sáng, phải phân biệt giữa an định và bất ổn. động đãng (đạp đổ truyền thống) tất quan hệ nhân tế hết sức cải biến (nên cổ nhân nói : Tử vi Phá quân vi thần bất trung, vi tử bất hiếu). Nếu an định ắt có thể tránh được. hơn nữa canh tân vô tình , thậm chí diện mục hốt nhiên đổi mới, mà các biểu hiện ngoài vẫn không hoảng loạn.

Các trường hợp Tử Phá có tính động đãng (bất ổn)
kiến Sát Kị Hình.
Tử vi hóa Quyền (tuổi Nhâm, Vũ sẽ hóa Kị)
Phá hóa Lộc (tuổi Quí, Tham sẽ hóa Kị và Tử Phá kiến Kình Đà).
Phá hóa Quyền (tuổi Giáp, Tử Phá kiến Kình Đà).
Thiên tướng [giáp Hình Kị],
Vũ hóa Kị,
Liêm, Tham hóa Kị,

Các trường hợp Tử Phá tính chất an định
Tả Hữu, Xương Khúc, Khôi Việt giáp, hội chiếu,
Thiên tướng [giáp Tài Ấm],
Vũ hóa Lộc (tuổi Kỉ)
Vũ hóa Quyền (tuổi Canh)
Vũ hóa Khoa, (tuổi Giáp)
Tử vi hóa Khoa (tuổi Ất)
Liêm, Tham hóa Lộc(tuổi Mậu) có Cát diệu
Đặc biệt [bách quan triều củng], một khi Tử vi hóa Khoa, tự nhiên lãnh đạo cả nhóm, bất kì cải cách nào cũng chẳng phí lực, bởi vì tính cách đã an định.

Thiên di cung Thiên tướng.
giáp Hình Kị, tăng cường tính bạn nghịch của Tử Phá, nên thuộc bất ổn.
giáp Tài Ấm, làm giảm tính bạn nghịch của Tử Phá, bản chất an định.

Tài bạch cung Vũ Sát.
tinh diệu tính sắc nét, mạnh mẽ.
Như Vũ hóa Lộc (can Kỉ), Quyền (can Canh), Khoa (can Giáp), khiến Tử Sát nỗ lực cải cách, vì vậy ổn định hơn bản chất cũ.
(nếu Vũ hóa Kị (can Nhâm), đồng cung Kình ???)ắt khiến Tử Phá phải mang thêm gánh nặng, vì vậy tính chất liền bất ổn.

Sự nghiệp cung Liêm Tham.
[Liêm Tham] hóa lộc, Tử Phá lại chuyển qua khuynh hướng nhục dục, dẫn đến cảm xúc bệnh hoạn (khốn nạo), bề ngoài biểu hiện an định nhưng thật chưa an định. Phải cần có Cát diệu hội hợp Liêm Tham, tính chất được trung hòa, mới khiến cho Tử Phá an định.

Liêm Tham vừa cùng Vũ Sát đối đãi (quan hệ). Liêm Tham ảnh hưởng Tử Phá ở tinh thần, nếu Liêm Tham hóa Kị khiến Tử Phá tinh thần “hư không” , tính chất liền động đảng. Vũ Sát ảnh hưởng Tử Phá ở vật chất.

Tử Phá chuyển đến 12 cung, tất cùng tinh hệ giao thoa. lộ rõ tính động tĩnh thích nghi, rồi sau mới là vận tốt. nếu vận hạn bất ổn, tất hiện rõ ràng tính bạn nghịch. Quan hệ nhân tế sẽ rất ác liệt, nhân sinh cũng rất gian khổ.

Nếu Tử Phá là bất ổn, chuyển đến cung có tính an định hoặc Tử Phá an định chuyển đến cung có tính chất bất ổn, ắt là hoàn cảnh không phối hợp

Nguyên cục Tử Phá bất ổn, không thích chuyển đến Tử Phá, Liêm Tham, Vũ Sát 3 cung, vì 3 cung này cùng tính chất bất ổn, không nên gia thêm tính động đãng mạnh, đây gọi là động đãng, cũng có cảm tình, vật chất khác nhau. phải chú ý kết cấu của Liêm Tham, Vũ Sát mà định. Nói đại khái, động đãng tình cảm tốt hơn vật chất. tuy nhiên,
nếu Liêm Tham tụ tập nhiều sao “đào hoa”, lại thấy Hư, Hao ,ắt nhiễm những thói xấu, ham mê tửu sắc, Tại hạn (thời điểm) này có thể ảnh hưởng đến đời sống vật chất

Nguyên cục Tử Phá an định, thích chuyển đến 3 cung Tử Phá, Liêm Tham, Vũ Sát. trừ phi đại hạn, lưu niên, phi tinh biến thành tính chất động đãng, như hóa làm Kị tinh, có lưu Sát diệu.

Tử Phá lưu niên vận hạn 12 cung .

Cung Mão Dậu :Thiên phủ.
Thiên phủ đắc Lộc hoặc hội Thiên tướng [Tài Ấm giáp] tinh hệ Thiên phủ chủ an định, bất kể bản chất Tử Phá đều thích chuyển đến. so sánh mà nói, Tử Phá an định chuyển đên đây là tốt

Nếu Thiên phủ là [lộ khố, không khố] (có Không diệu, Sát tinh đồng cung)
Tử vi bất ổn đến : chủ khuynh bại, nguyên nhân khuynh bại là bởi không giữ bổn nghiệp, cải cách càn.
Tử vi an định đến : chỉ xuất hiện tình trạng khó khăn, không biến thành thất bại.

Cung Thìn Tuất : Thái âm.
Thái âm độc tọa , vô luận miếu hãm đều bất ổn , bất quá ở tuất cung Thái âm nhập miếu, tốt hơn ở cung thìn.
Thái âm hóa Lộc, Quyền, Khoa là trữ tĩnh [an định],
Thái âm hóa Kị, kiến Sát là bất ổn.
Tử vi an định đến : rất nên gặp [Thái âm cát Hóa cùng Sát diệu], Chủ nhân nên theo hoàn cảnh mà cải biến, thoát li cảnh khó khăn.
Tử vi bất ổn đến : rất thích nghi gặp Thái âm hóa Lộc, bắt đầu hơi trắc trở buồn bực đột nhiên xuất hiện sự phát triển đột phá

Cung Tí Ngọ : Cự môn.
Tử vi an định đến : gặp Cự có Sát tinh : có kích phát lực.
Tử vi bất ổn đến : gặp [Cự cát Hóa không có Sát tinh] : biến động đắc lợi.
Cự hóa Kị,
tính chất nào của Tử Phá cũng không hợp : dễ dàng sinh chuyện rối ren [nguyên cục Liêm Tham không tốt, khởi tình cảm rối ren. Vũ Sát không tốt, xung đột lợi ích.

Cung Dần Thân:Đồng Lương.
Tử Phá không thích chuyển đến cung có Đồng Lương, vì cung này tất mang theo khốn cảnh (vì cung có Lương luôn luôn có tai họa???), sau khi khắc phục mới có thể thu hoạch, cuộc sống là ngắn hạn, hà tất vướng chổ khó khăn. Cho nên lúc chuyển đến cung này, lấy tĩnh thủ làm tốt
Cung Thìn Tuất : Thái dương.
Thái dương cũng có tính chất bất ổn,
khi Thái dương hóa Lộc, Quyền, Tử Phá được an định, do đó hợp. tất lợi.
Tử vi bất ổn đến : gặp Thái dương hóa Khoa : khiến cho danh vọng tăng gia, có thể thay đổi đáng kể.
Thái dương hóa Kị,
Tử vi an định hay bất ổn đến : đều dễ xấu. nữ mệnh tình cảm hết sức bế tắc.

Cung Tí Ngọ:Thiên cơ.
Tử vi an định đến thích hợp Thiên cơ cát hóa, sinh lực phấn đấu
Tử vi bất ổn đến thích hợp [Thiên cơ kiến Cát diệu, không Cát hóa], có trợ lực khi biến động.
Thiên cơ hóa Kị, Tử vi bất ổn đến càng biến càng khổ.

Tử Phá thủ mệnh
tối kị là [tại dã] cách cục, chuyển đến vận hạn Cơ Lương Cự, thường là vận trình then chốt của cuộc đời, như kiến Sát Kị Hình chiếu, phát sinh những rắc rối , mỗi chuyện đều có thể ảnh hưởng cả đời.

kiến niên hạn Nhật hóa Kị, chuyện gì cũng chiêu thị phi oán giận .

nguyên cục Vũ hóa Kị, đại hạn chuyển đến cung [Vũ Sát], hay chuyển đến lưu niên Nhật hóa Kị hoặc Cự hóa Kị, chủ vì tiền tài mà chiêu họa .

Tử Phá không thích niên hạn kiến Thiên phủ là [không khố, lộ khố] : chủ phá tài;nếu Thiên phủ đắc Lộc, chủ vì tài mà thất nghĩa (chỉ có 1 trường hợp Vũ hóa Lộc thì Phủ kiến Kình hoặc Đà).

Tử Phá chuyển đến niên hạn [Đồng Lương], gặp Cơ hóa Kị thêm Sát đến xung : xử sự tất phải chân thành, trung thực, nếu không, mưu mẹo càng nhiều, phá bại càng lớn.

1. Tử Phá tọa sửu mùi bất ổn / an định ***
2. Thiên phủ tọa mão dậu trì trọng / cẩn thận
3. Thái âm tọa thìn tuất mục tiêu / manh động
4. Liêm Tham tọa tị hợi tình cảm / vật dục
5. Cự môn tọa tí ngọ nội liễm / nghi kị
6. Thiên tướng tọa sửu mùi ưu nhã / dung tục
7. Đồng Lương tọa dần thân lãng mạn / nguyên tắc
8. Vũ Sát tọa mão dậu quyết đoạn / đoản lự
9. Thái dương tọa thìn tuất bất tha luy / tha luy
10. Thiên cơ tọa tí ngọ dương cương / âm nhu***

*** 1 thí dụ về Tử Phá tại Tử tức cung
Thái âm tại Tuất cung tọa Mệnh ,
Tử Phá tại Mùi, Tử tức cung.
tuổi Đinh : Kình, Tử Phá đồng cung, Tử Phá ảnh hưởng an định.

Đại hạn Quý Mão,
Mệnh đại hạn (tại Mão)là Vũ Sát hội Liêm Tham hóa Kị (Tài đại hạn tại Hợi, đại hạn can Quí thì Tham hóa Kị) tinh thần sinh hoạt xuất hiện triệu chứng khuyết hãm, gia thêm tính chất ở Tử tức cung đại hạn(tại Tí có Cự hóa Kị nguyên cục, đến đại vận bị Kình Đà giáp, mà hóa kị của cự môn lại hóa Quyền), do vậy về già bị con đoạt tài sản, mà lại khộng chịu phụng dưỡng. may có Phá hóa Lộc (tại Mùi), (đại hạn can Quí thì Phá hóa Lộc)hội chiếu Mệnh cung lưu niên Vì vậy tuổi trung niên có thể liên doanh với bạn bè mở một nhà máy nhỏ để hỗ trợ Cuộc sống.

Nếu Tử tức cung nguyên thủy không phải là Tử Phá + Kình, thì(Tử tức cung đại hạn tại Tí)Cự hóa Quyền xung hóa Kị nguyên thủy, sẽ không có con bất hiếu.

TỬ VI – THẤT SÁT tọa Tỵ Hợi


[Biểu tượng của quyền lực]

Tử Sát tọa tị hợi có 2 tính chất quyền uy / chuyên quyền.

Tử Sát đồng cung ở tỵ hợi / đối cung là Thiên Phủ / tam hợp hội cung là Vũ Tham và Liêm Phá.

Tử Vi là đế tinh, Thất Sát là tướng tinh đồng cung, biểu hiện một khí thế không gì so sánh được, người “nhiều khai sáng lực và tư tưởng độc đáo” nói chung, Tử Sát có thể được coi như là một [biểu tượng của quyền lực], như vậy Tử Vi không nên Hóa Quyền, Nếu không, chủ nhân quyền lực quá cao, biểu hiện một phong thái quá quắt (chuyên quyền, độc tài) khiến người khác khó chịu.

rất cần được Cát diệu hội chiếu.
Như có Phụ Bật, Xương Khúc, Lộc, Mã đồng hội, khiến Thất Sát dũng cảm có đất dụng võ, nói [hóa Sát vi Quyền] tức là loại cách cục này.

nếu không có Cát diệu hội chiếu, giống như anh hùng phải vào rừng làm giặc, khó tránh biểu hiện bá đạo (cậy mạnh) làm càn, chủ nhân “hoạnh phát hoạnh phá”.

Nữ mệnh Tử Sát, về mặt hôn nhân không đáng ngại nhiều, tuy nhiên nếu Sát tinh chiếu hội : chủ cô độc.

Tổ hợp tinh hệ này kết cấu “thuần tính vật chất”, hội hợp tinh diệu cường liệt (cực đoan), vì vậy cát hung thường thường xen lẫn.

Phải suy luận Tử Sát ở cả hai bản chất hết sức cực đoan, có thể phân rõ ra Quyền Uy hoặc chuyên quyền, (ngang ngược, cậy thế, lạm quyền độc tài).

quyền uy phát triển đúng hướng (đường chánh) dễ dàng xuất nhập vào chỗ cao nhất : cuộc sống dễ thỏa lòng, tuy bế tắc cũng không hung hiểm;
chuyên quyền: dễ đi vào đường rẽ. (đường bất chánh) dễ lên mà cũng dễ vấp ngã, tai họa bệnh hoạn cũng nhiều.

nhưng, người Tử Sát tại Mệnh thông thường tính chất không cực đoan ngang ngược như vậy, như thế hai tính chất chỉ để so sánh mà thôi.

Các trường hợp sau đều là Tử Vi quyền uy.
Tử Vi hóa Quyền, có Lục cát, không có Hình Sát.
Tử-vi hóa Khoa có Phụ tá,
Vũ, Tham hóa Lộc.
Liêm, Phá hóa Lộc,

Các trường hợp sau đều là Tử Vi chuyên quyền
Tử Sát không có Phụ tá, có Hình Sát.
Vũ hóa Quyền,
Tử Vi hóa Quyền.

Tử Vi quyền uy.
Tử Vi hóa Quyền (can Nhâm), (thì Vũ sẽ hóa Kị tại Tài cung)
cần Lục cát, và không Hình Sát. thì mới có thể bỏ tính chuyên quyền.

Tử Vi không hóa Quyền,
có Phụ tá hội, dù hội Hỏa Linh cũng chẳng là chuyên quyền : tính chất là Tử Vi uy quyền,

Tử-vi hóa Khoa (can Ất),
chỉ cần có một hoặc hai Phụ tá hội hiệp, tức sẽ là quyền uy chứ không là chuyên quyền. Đồng hội là văn diệu, chủ nho nhã, tiền nhân chỉ rõ là [nho tướng phong lưu]. Bấy giờ kiến Hỏa Linh cũng hóa làm khí chất tường hòa. tốt lành, rồi sau cách cục [Hỏa Tham] [Linh Tham] mới thích dụng. nếu không có Phụ tá hội hiệp : hoạnh phát sau dễ dàng hoạnh phá.

Phủ hóa Khoa (cần nhất can Canh hóa Khoa).
không sát diệu đồng chiếu, có thể giải được tính chuyên quyền, thậm chí nếu không thể chuyển hóa thành quyền uy, cũng bớt được nhiều hung hãn, cuộc sống nhiều gặp gở do đó cũng nhiều thuận cảnh.

Vũ Tham (tại Sửu Mùi),
Tham hóa Lộc (can Mậu) tốt nhất, Vũ hóa Lộc (can Kỉ) cũng tốt. vì Vũ Hóa Lộc khiến Tử Sát nhiều vất vả , chẳng bằng Tham Hóa Lộc chủ hưởng thụ.

Liêm Phá (tại Mão Dậu).
Liêm hóa Lộc (can Giáp) tốt hơn Phá hóa Lộc (vì Liêm hóa Lộc thì Phá sẽ hóa Quyền và Vũ hóa Khoa tại Tài cung),
Phá Hóa Lộc (can Quí) vất vả hơn Vũ Hóa Lộc (vì Tham sẽ hóa Kị tại Tài cung)

Tử Vi chuyên quyền
Tử Sát không có Phụ tá hội hợp, tuyệt đối không nên kiến Tứ Sát đồng cung hoặc hội chiếu, ắt : nhân sinh gặp nhiều phiền toái.

Vũ hóa Quyền (can Canh),
thêm sát diệu ắt ảnh hưởng Tử Sát chuyên quyền. Tuy Phủ hóa Khoa cũng khó điều hòa (Do đó can nhâm Phủ không nên Hóa Khoa).

Tử Sát nếu tự mình không có tính chuyên quyền, cũng không nên hội với tinh diệu khác hóa Quyền. Tham hóa Quyền ảnh hưởng ít hơn Phá hóa Quyền. do có Liêm hóa Lộc điều hòa, không phải xấu.

Tử Sát thủ mệnh
Tử Sát thủ mệnh, tài bạch cung “Vũ Tham”, nếu kiến Hỏa Linh : chủ hoạnh phát hoạnh phá, bạo phát bạo bại. phát rồi phải tự mình giữ gìn, sau đó mới có thể phát triển tốt đẹp .

Tử Sát mà Tử vi hóa Quyền : ắt trọn đời tài lực không đủ để lo sự nghiệp .

Tử Sát thủ mệnh : nặng tinh thần trách nhiệm, người tuổi Quý : sự nghiệp cung là Liêm Phá mà Phá hóa Lộc : chủ gánh thêm nhiều trách nhiệm (ngoài trách nhiệm chính), việc gì cũng phải tự mình gánh vác .

Tử Sát tại mệnh cung, lấy “Cự Nhật” là điểm mấu chốt . Cự Nhật tại dần thân cung là tốt, nhưng vẫn xét tinh diệu cát hung mà định.

Nữ mệnh Tử Sát hôn nhân phần nhiều không như ý. nếu mệnh cung , phu thê cung kiến Sát tinh, lại bất thiện khắc chế , Rất dễ liên tục thay đổi cảm xúc..

Tử Sát thủ mệnh , lấy đại hạn Thiên tướng , “Vũ Tham” làm điểm mấu chốt của mệnh vận.
Tử Sát lưu niên vận hạn 12 cung.
Cung Mão Dậu : Liêm Phá.
Tử vi quyền uy đến : ắt có thể thiết lập uy quyền.
Tử vi chuyên quyền đến :tuy gặp cát hóa, ở vận hạn gặp lưu niên không cát lợi, ngay lập tức sanh bế tắc hoặc phá bại, hội [Hỏa Tham] [Linh Tham] thành bại thường thường rất nhanh, trong 10 năm đại vận có thể phát sinh liên tục nhiều lần

Như Liêm Phá thấy Sát Kị Hình cùng họp, hoặc là Hình Kị giáp Thiên Tướng xung, củng hợp,
Tử vi quyền uy đến : phải chịu áp lực cạnh tranh, bấy giờ phải cân nhắc tình huống mà xác đính cơ tiến thóai.
Tử vi chuyên quyền đến : tuyệt không nên kích động thị phi, nếu không sẽ liên quan đến một cơn đại phong ba.
Như nguyên cục Liêm hóa Kị xung đại vận Vũ hóa Kị, hoặc nguyên cục Vũ hóa Kị xung vận hạn Tham Hóa Kị, lại xung lưu niên Liêm Hóa Kị, lại thấy Kình Đà diệt xung, lại thấy Hình Hao, vô Lộc giải cứu hoặc “Lộc khinh đào hoa trọng”, ắt là năm nguy hiểm, thông thường vì thất bại mà muốn quyên sinh, nhất là phụ nữ.

Cung Tị Hợi: Thiên Phủ.
Nếu Thiên Phủ kiến Không là Không khố, vậy Tử Sát bất kể tính chất gì đều không nên chuyển đến, ngay cả lưu niên cũng nhiều phá bại,
Tử vi chuyên quyền đến : càng chủ bạo bại.

Như Thiên Phủ hội Lộc là kho đầy, lại ít Sát hợp,
Tử vi quyền uy đến : thì chủ thuận toại bình hòa,
Tử vi chuyên quyền đến : phải lo thủ để trì doanh (giữ cho đầy đặn).

Phủ hóa Khoa đắc Lộc, lại thấy Quang Quý,Thai Cáo, Thai Tọa.
Tử vi quyền uy đến : chủ được vinh quang khác thường.

Do khí chất không hòa được với nhau, Do vậy, nguyên tắc chung của Tử Sát chuyển đến lưu niên Thiên Phủ, phải mạnh dạn “không làm” (can thiệp vào) là thích hợp nhất.

Cung Tí Ngọ : Đồng Âm.
Tử Sát chuyển đến : nói chung là tốt. Tử Sát chủ nhọc nhằn, gặp Đồng Âm ắt được yên bình.
Tử vi quyền uy đến : vận trình này được hưởng thụ, duy Đồng không nên Hóa Kị, chủ muốn tĩnh mà không thể tĩnh, thường thường sức khỏe không tốt, cần chú ý, tim, huyết quản có bệnh.

Nguyên cục Âm hóa Kị, như xung hội đại hạn Cơ hóa Kị , thì Tử Sát không nên gặp, nếu gặp : chỉ nên tĩnh thủ (giữ yên) không nên động (thay đổi), thời gian này gặp nhiều phỉ báng oán hờn, hoặc bị kẻ dưới chiếm đoạt tài vật.

Cung Sửu Mùi : Vũ Tham.
Nếu gặp Cát hóa, Cát diệu,
Tử vi quyền uy đến : vận thế thịnh vượng, phát lâu dài. chỉ cần không thấy Sát Kị, buôn bán bình thường.
Tử vi chuyên quyền đến : không bền tuy là lưu niên, cũng chủ nhiều cạnh tranh thị phi phiền toái. Hỏa Tham thành cách cũng chủ phải lo hảo rồi sau đắc tài.

Như nhiều Sát Kị Hình,
Tử vi quyền uy đến : bị nhiều cạnh tranh, thu hoạch không thỏa mãn;
Tử vi chuyên quyền đến : ắt nhiều khuynh bại, có Đà đồng cung : phong cách tự thân mình cũng khiêu khích thị phi chống đối.

Cung Dần Thân: Cự Nhật.
Tử vi chuyên quyền đến không thích Thái Dương quá vượng, vì vậy vận đến cung dần Cự Nhật : thị phi, khó khăn, đến cung thân lại là tốt.
Tử vi quyền uy thì ngược lại, thích cung dần mà không thích cung thân, dần cung phát sinh lực lớn hơn.

Cự Nhật có Sát Kị Hình chiếu,
Tử vi quyền uy đến : hình khắt lục thân, bất lợi khi hợp tác với người khác;
Tử vi chuyên quyền đến : phải phòng quan phi từ tụng

Tử vi quyền uy đến : Cự hóa Lộc là mệnh lệnh vì thế tốt hơn Thái Dương hóa Lộc.
Tử vi chuyên quyền đến : Thái Dương hóa Lộc là thanh vọng vì thế tốt hơn Cự hóa Lộc, đại khái dể rõ . . ..

Cung Mão Dậu: Thiên Tướng.
Nếu Hình Kị giáp
Tử vi chuyên quyền đến : là vận trình chịu nhiều áp lực cùng bế tắc. xấu nhất là bấy giờ Phá hóa Lộc đến xung, biểu hiện cơ hội nhiều, bế tắc cũng nhiều, thương thường thất bại khi gần đến thành công.
Tử vi quyền uy đến : cũng nhiều phát triển lực, vận trình : thường có tính đột phá. ở lưu niên cũng chủ : cát lợi, nhưng nhiều vất vả oán hờn.

Nếu Tài Ấm giáp.
Tử vi chuyên quyền đến : nên an phân giữ mình , thì tự nhiên tiến bộ, nếu dụng hết tâm cơ, chỉ chiêu thị phi, là nguyên nhân phá bại ở hậu vận

Thiên Tướng đắc Lộc thì bị Kình Đà giáp, nếu không Cát diệu phù trợ, Tử Sát đều nên tĩnh không nên động, động ắt bị tổn thất.

cung Thìn Tuất: Cơ Lương,
Tử vi quyền uy đến : có lợi.
Tử vi chuyên quyền đến : thường bất lợi lục thân , cuộc sống cô lập .
thấy Cát hóa, Cát diệu,
Tử vi quyền uy đến : chủ tự lập ,
Tử vi chuyên quyền đến : có thể lạc lối.

Như Sát Kị Hình Hao đồng hội ,
Tử vi chuyên quyền đến : dễ chuyển biến đưa người tới chổ tuyệt vọng lưu ly..

Lương hóa Lộc,
Tử vi chuyên quyền đến : bất lợi, dễ phát triển bằng thủ đoạn gian trá;

Cơ hóa Quyền , thấy thêm Cát diệu,
quyền uy đến : ắt mừng, không gì mà không lợi.

Cơ hóa Kị , bất luận bản chất Tử Sát đều không nên gặp.
Tử vi quyền uy đến : Có thể coi là một cơ hội để rèn luyện đời sống /
Tử vi chuyên quyền đến : Thường là do ảnh hưởng tâm lý, mà hành động bừa bãi gây nên tai họa.

1. Tử Sát tọa tị hợi quyền uy / chuyên quyền ***
2. Liêm Phá tọa mão dậu phụng công / tư lợi
3. Thiên phủ tọa tị hợi tường hòa / quyền thuật
4. Đồng Âm tọa tí ngọ tích cực / tiêu cực
5. Vũ Tham tọa sửu mùi dục vọng / dã tâm
6. Dương Cự tọa dần thân đắc trợ / cô lập
7. Thiên tướng tọa mão dậu chính trực / tuần tư
8. Cơ Lương tọa thìn tuất tiêm khắc / minh đoạn

*** 1 thí dụ để tiện nghiên cứu :
người tuổi Nhâm
Đồng Âm tọa mệnh ở (tí cung) + Kình đồng cung, hội Lương hóa Lộc (Thìn cung)
Tử Sát đóng giao hữu cung (Nô tại Tị),.
Tử Sát Giao hữu cung (nô), có Tử Vi hóa Quyền , hội Vũ hóa Kị (tại Sửu) + Linh đồng cung , tính chất thuộc về Tử vi chuyên quyền .

Đến đại vận Ất Tị,
Nô cung đại vận (vô chính diệu tại Tuất) mượn Thìn cung [Cơ Lương] hội Đà La nguyên cục (tại Tuất). (hạn đại vận can Ất thì : Cơ hóa Lộc, Lương hóa Quyền, hội Cự Nhật cùng Tá tinh.
Mệnh cung nguyên cục [Đồng Âm] thì Âm hóa Kị ,
Trong vận hạn này, tự mình gây nên phiền lụy, không chỉ chiếm đoạt tài vật mà còn đoạt luôn khách hàng của người hợp tác. Đây là do nguyên cục của cung Nô có khí chuyên quyền của [Tử Sát], đến [Cơ Lương] mà phát sinh.

%d bloggers like this: